Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29-7-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Diệp
  2. Bà Lê Thị Hoàng Diễm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 241/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thị Dân A, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu phố D, phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Phạm Thanh Đ, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Võ Thị Dân A trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Thanh Đ tự nguyện kết hôn vào năm 2020 và có đăng ký kết hôn vào ngày 20/4/2020 tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn kéo dài nhưng anh chị vẫn không khắc phục được nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị xác định vợ chồng không thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Do đó, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh Đ. Chị A không yêu cầu Tòa án xem xét đến việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.

Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Tuyết A1, sinh ngày 16/01/2020. Sau khi ly hôn, chị nuôi con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Phạm Thanh Đ trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, hồ sơ khởi kiện photo theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Đ đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh Đ.

Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ theo quy định của pháp luật; riêng bị đơn không tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A và anh Đ kéo dài đã nhiều năm nhưng anh chị không tự khắc phục được. Trong suốt quá trình tố tụng, anh Đ vắng mặt, điều đó cho thấy anh Đ không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên có

căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A và anh Đ đã trầm trọng, hôn nhân có kéo dài cũng không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 01 con chung tên Phạm Tuyết A1, sinh ngày 16/01/2020. Sau khi ly hôn, chị A nuôi con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi chị A ly thân anh Đ cho đến nay thì chị A là người trực tiếp nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con chung nên đề nghị Tòa giao con chung cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận việc chị A không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị A khai không có nên không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa án ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Võ Thị D A và anh Phạm Thanh Đ là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phạm Thanh Đ có nơi cư trú tại xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng bị đơn anh Phạm Thanh Đ vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã tiến hành lập biên bản không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Phạm Thanh Đ vẫn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.

Nguyên đơn chị Võ Thị Dân A có yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Võ Thị D A là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Võ Thị Dân A và anh Phạm Thanh Đ tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre vào ngày 20/4/2020 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Chị A xác định nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do cả hai có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau. Từ năm 2022 đến nay, vợ chồng chị A và anh Đ đã sống ly thân. Tại biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân của Tòa án cũng xác định chị A và anh Đ đã ly thân được một thời gian. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Đ không tham gia phiên hòa giải, điều đó cho thấy anh Đ không có thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ đó có cơ sở để xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị A và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A. Ghi nhận chị A không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.

[3] Về con chung: Chị A và anh Đ có 01 con chung tên Phạm Tuyết A1, sinh ngày 16/01/2020. Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi chị A ly thân anh Đ đến nay chị A là người trực tiếp nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung và không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con, Hội đồng xét xử giao cho chị A được trực tiếp nuôi cháu Phạm Tuyết A1, sinh ngày 16/01/2020 cho đến khi cháu Tuyết A1 đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật là phù hợp theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị A không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn anh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Đ thực hiện quyền này. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị A khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét thấy, anh Đ vắng mặt, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Đ về phần tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề này.

[5] Về án phí: Chị Võ Thị Dân A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[7] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 115 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. 1. Về hôn nhân: Cho chị Võ Thị Dân A ly hôn với anh Phạm Thanh Đ. Ghi nhận chị Võ Thị Dân A không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
  2. 2. Về con chung: Giao con chung tên tên Phạm Tuyết A1, sinh ngày 16/01/2020 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận chị A không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

    Anh Phạm Thanh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.

  3. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị A khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. 4. Về án phí: Chị Võ Thị Dân A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị A đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000476 ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị Võ Thị Dân A đã nộp đủ án phí.

Chị Võ Thị Dân A và anh Phạm Thanh Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo qui định tại điều 02 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được qui định tại điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng GĐKT TAND tỉnh Bến Tre;
  • - UBND phường 7, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên và đóng dấu)

Trần Thị Ngọc Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger