Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 28 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Chi;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Tiến;

Ông Nguyễn Duy Viên.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên, Thư ký Toà án nhân dân huyện

Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên toà:

Ông Bùi Văn Tuân, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến, tại điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an huyện T, vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Văn C, sinh ngày 02 tháng 6 năm 1964 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Dương Kim C1, đã chết và bà Lương Thị N; có vợ là Phạm Thị H, sinh năm 1965 và 03 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 2000; tiền sự, tiền án: Không có; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2020/HSST, ngày 27/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng đã xử phạt Chúc 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 01/6/2024 đến ngày 07/6/2024 chuyển sang tạm giam đến nay, có mặt;

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H1, Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, có mặt;

Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Trần Thị T, Công chức Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, có mặt.

oà, V, Hải Phòng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 31/5/2024, Dương Văn C mượn xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 16L4-2181 của anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1989 ở thôn T, xã Đ, huyện T, rồi đi ra khu vực đường tàu thuộc quận L, thành phố Hải Phòng mục đích là mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi C gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá, người này bán cho C 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín hai đầu bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Chúc cất giấu ma túy vào túi quần phía trước bên trái rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô ra khu vực cánh đồng gần nhà rồi lấy một ít ma túy đá ra sử dụng, số ma túy còn lại Chúc cất vào túi quần phía trước bên phải rồi đi về nhà. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 01/6/2024, C lấy số ma túy trên cất giấu vào trong giày phía chân trái của mình rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực cánh đồng thôn Q, xã C, huyện T tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Công an huyện T tiến hành kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ trong giày phía chân trái của C 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín hai đầu kích thước 3,6cm x 0,9cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 16L4-2181; 01 giày giả da màu đen (chân trái).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Văn C, nhưng không thu giữ được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án. Ngày 24/7/2024, anh Phạm Văn Đ giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đăng ký xe mô tô, biển kiểm soát 16L4-2181 mang tên Phạm Thị T1, sinh năm 1978 ở thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Kết luận giám định số 657/KL-KTHS ngày 04/6/2024 của phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,25 gam, loại: Methamphetamine”.

Kết luận giám định số 2208/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, mang biển kiểm soát: 16L4-2181, có số khung và số máy là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa, sửa chữa các ký tự”.

Tại phiếu trả lời xác minh xe ngày 11/6/2024 của Công an huyện T thể hiện chủ xe mô tô biển kiểm soát 16L4-2181 là chị Phạm Thị T1, sinh năm 1978 ở thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Kết quả xét nghiệm ngày 01/6/2024 của Cơ sở cai nghiện ma túy số 02 Hải Phòng kết luận: Dương Văn C dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

Anh Phạm Văn Đ khai: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 16L4-2181 anh Đ mua của chị Phạm Thị T1, sinh năm 1978 ở thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng, không viết giấy mua bán xe. Sáng ngày 31/5/2024, C mượn xe của anh Đ sử dụng đi lại, anh Đ không biết việc C sử dụng xe đi mua ma túy.

Chị Phạm Thị T1 khai: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 16L4-2181, chị T1 mua năm 2005; chị T1 đã bán xe mô tô trên cho anh Phạm Văn Đ, không viết giấy mua bán.

Tại Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 10/9/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng đã truy tố Dương Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Dương Văn C đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và khai số ma túy Cơ quan Công an thu giữ là của Chúc cất giấu để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Số tiền 500.000 đồng dùng để mua ma tuý là do C lao động mà có. Chúc không trao đổi, bàn bạc với ai, không có ai góp tiền với C để mua ma túy. Xe mô tô biển kiểm soát 16L4 - 2181 Chúc mượn của anh Phạm Văn Đ, anh Đ không biết C sử dụng xe để đi mua ma túy.

Kiểm sát viên khẳng định: Cáo trạng số 65/CT-VKS, ngày 10/9/2024 truy tố Dương Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Tuyên bố bị cáo Dương Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt từ 18 đến 24 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người khuyết tật, không có tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc giầy giả da màu đen (chân trái) 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (bên trong có 0,16 gam tinh thể màu trắng cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật).

Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến gì về tội danh bị cáo bị truy tố, xét xử. Người bào chữa cho rằng, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mặt khác bản thân bị cáo là người khuyết tật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tổ tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. [2] Về tội danh và hình phạt: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Dương Văn C là hoàn toàn rõ ràng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu được, phù hợp với kết luận giám định, kết quả xét nghiệm ma túy đối với C. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Hành vi ngày 01/6//2024 của Dương Văn C mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực đường tàu thuộc quận L, thành phố Hải Phòng 0,25 gam ma túy, loại Methamphetamine rồi cất giấu trái phép để sử dụng là phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
  3. [3] Bị cáo Dương Văn C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng do cố ý, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân làm gia tăng số người nghiện trên địa bàn - nguồn gốc gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định, mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
  4. [4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng đã được xóa án tích, nên lần phạm tội này không bị coi là tái phạm; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tuy nhiên, cần thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là người khuyết tật nặng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo đã tham gia Q, có bố đẻ là được tặng Kỷ niệm chương Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt, tù đày. Do đó, bị cáo được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
  5. [5] Xét thấy, mặc dù bị cáo có nhân thân xấu, nhưng được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bản thân là người khuyết tật nặng. Vì vậy, nên xử phạt bị cáo hình phạt ở mức khởi điểm mà Kiểm sát đề nghị là phù hợp.
  6. [6] Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông đã bán ma túy cho C, nên đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
  7. [7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét thấy C là người khuyết tật, không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
  8. [8] Về vật chứng: Số ma túy (Methamphetamine) Cơ quan điều tra thu giữ của Chúc, đã được lấy ra một phần để giám định, còn lại 0,16 gam được niêm phong trong 01 phong bì cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật do cơ quan giám định hoàn lại, thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành; 01 chiếc giầy giả da (chân trái) không còn giá trị sử dụng. Do đó, căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng nêu trên. Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 16L4-2181 và 01 Giấy đăng ký xe mô tô là tài sản hợp pháp của anh Phạm Văn Đ. Việc

C mượn và sử dụng xe đi mua ma túy, anh Đ không biết. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và giấy tờ xe trên cho anh Đ là đúng quy định pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo Dương Văn C là người khuyết tật nặng, nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án,

  1. Tuyên bố bị cáo Dương Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Văn C 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 01/6/2024.
  3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) chiếc giầy giả da màu đen (chân trái); 01 (Một) phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định, bên trong có 0,16 gam tinh thể màu trằng cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật. Toàn bộ vật chứng đã được Công an huyện T bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
  4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dương Văn C.

Bị cáo Dương Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tiên Lãng;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tiên Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Tiên Lãng;
  • - Bị cáo Dương Văn Chúc;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Văn Chúc phạm tội tàng trữ trái pháp chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger