|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2024/HS-ST
Ngày 28 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Bách
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Chảo Phù Hiển
- Ông Khoàng Văn Sơn
Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Vàng A T sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975 tại xã Keo Lôm, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên. Nơi thường trú: Bản Nà Bủng 3, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên; Thẻ CCCD: [...]; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vàng Gà K (đã chết) và con bà Lý Thị L sinh năm 1949; Bị cáo Vàng A T có vợ tên là Giàng Thị P sinh năm 1977. Có 06 con, lớn nhất 30 tuổi, nhỏ nhất 18 tuổi. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 05 tháng 11 năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ xử phạt 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 21 tháng 7 năm 2021 chấp hành xong án phạt tù và các quyết định khác của bản án, đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo Vàng A T bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 6 năm 2024 đến ngày 12 tháng 6 năm 2024, tạm giam từ ngày 12 tháng 6 năm 2024 đến nay, có mặt.
- Người có nghĩa vụ liên quan: Anh Thào A Xinh. Sinh năm 1974
Nơi thường trú: Bản Nà Bủng 1, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Vàng A T: Bà Giàng Thị Nhung trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên tham gia tố tụng. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 02 tháng 6 năm 2024 bị cáo Vàng A T đi bộ từ nhà ở bản Nà Bủng 1, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ đến bản Púng Pá Kha, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng và bán lẻ kiếm tiền bất chính. Khi đến nơi bị cáo Vàng A T gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 60 tuổi, không biết tên, địa chỉ ở đâu. Qua nói chuyện biết người đàn ông này có ma túy bán. Bị cáo Vàng A T đã mua được của ông ta 01(một) gói Heroine và 01(một) gói Methamphetamine với số tiền là 500.000 đồng, mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo Vàng A T cầm trên tay đi bộ về nhà và đã sử dụng một ít, sau đó cho vào trong lọ nhựa cất đi. Khoảng 17 giờ ngày 03 tháng 6 năm 2024, khi Vàng A T đang ở nhà thì có Thào A Xinh đến hỏi mua với số tiền là 20.000 đồng, bị cáo Vàng A T đã lấy một ít Heroine bán cho Thào A Xinh, sau đó Thào A Xinh đã đi về và đã sử dụng hết. Vào hồi 17 giờ 40 phút ngày 03 tháng 6 năm 2024 bị tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ và Công an xã Nà Bủng phối hợp phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án và đưa về Công an huyện Nậm Pồ để làm rõ.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024 Công an huyện Nậm Pồ cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, khối lượng Heroine là 3,57 gam và khối lượng Methamphetamine là 0,99 gam thu giữ của Vàng A Thánh.
Bản kết luận giám định số: 949/KL-KTHS ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Vàng A T có khối lượng 3,57 gam các cục chất bột dạng nén màu trắng đục là chất ma túy: Loại Heroine. Ký hiệu M1.
Vật chứng thu giữ của Vàng A T có khối lượng 0,99 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Ký hiệu M2.
Bản kết luận giám định số: 1013/KL-KTHS ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Vàng A T gồm 02 (hai) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 VNĐ (Mười nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật.
- Hoàn lại đối tượng giám định và toàn bộ bao bì niêm phong cũ có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng kèm theo.
Bản cáo trạng số: 45/CT-VKSNP ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Pồ đã truy tố Vàng A T để xét xử về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251 BLHS; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Vàng A T từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù đến 07 (bảy) tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bị cáo; Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án và tịch thu số tiền là 20.000 VNĐ sung quỹ Nhà nước. Áp dụng Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Vàng A T không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như phần luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện sinh sống của bị cáo dẫn đến nhận thức pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét xử phạt cho bị cáo Vàng A T mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS về hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí, đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí với nội dung truy tố trong Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo Vàng A T nhất trí với lời bào chữa và không có ý kiến bổ sung; không có ý kiến khiếu nại về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi phạm tội bị cáo thấy: Lời khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 07 giờ ngày 02 tháng 6 năm 2024 bị cáo Vàng A T đi bộ từ nhà ở bản Nà Bủng 1, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ đến bản Púng Pá Kha, xã Nà Bủng, huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng và bán lẻ kiếm tiền bất chính. Khi đến nơi bị cáo Vàng A T gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 60 tuổi, không biết tên, địa chỉ ở đâu. Qua nói chuyện biết người đàn này có ma túy bán. Bị cáo Vàng A T đã mua được của ông ta 01(một) gói Heroine và 01(một) gói Methamphetamine với số tiền là 500.000 đồng, mua bán xong người đàn ông đó đi đâu bị cáo không biết, còn bị cáo Vàng A T cầm trên tay đi bộ về nhà đã sử dụng một ít, sau đó cho vào trong lọ nhựa cất đi. Khoảng 17 giờ ngày 03 tháng 6 năm 2024, khi Vàng A T đang ở nhà thì có Thào A Xinh đến hỏi mua với số tiền là 20.000 đồng, bị cáo Vàng A T đã lấy một ít Heroine bán cho Thào A Xinh, sau đó Thào A Xinh đã đi về và đã sử dụng hết. Vào hồi 17 giờ 40 phút ngày 03 tháng 6 năm 2024 bị tổ công tác Công an huyện Nậm Pồ và Công an xã Nà Bủng phối hợp phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vàng A T đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 BLHS. Tổng hai chất ma túy có khối lượng là 4,56 gam.
Việc VKSND huyện Nậm Pồ truy tố bị cáo Vàng A T về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật, bị cáo không bị oan sai.
[2] Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội bị cáo thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiêm cho xã hội, xâm phạm đên chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo thấy: Ngày 05 tháng 11 năm 2018 bị cáo Vàng A T bị Tòa án nhân dân huyện Nậm Pồ xử phạt 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 21 tháng 7 năm 2021 chấp hành xong án phạt tù và các quyết định khác của bản án, đến nay đã được xóa án tích.
Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Vàng A T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.
[4] Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Vàng A T từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù đến 07 (bảy) năm tù. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần xem xét xử phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; HĐXX xét thấy có căn cứ áp dụng. Đề nghị HĐXX xử phạt mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện Kiểm sát. HĐXX xét thấy việc đề nghị của người bào chữa là phù hợp nên được chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát, người bào chữa về việc không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông bán Heroine và Methamphetamine cho bị cáo; do bị cáo không biết tên, địa chỉ ở đâu do đó không có cơ sở để xử lý trong vụ án.
Đối với Thào A Xinh có hành vi mua một cục Heroine của Vàng A T và đã sử dụng hết. Ngày 02 tháng 7 năm 2024 Cơ quan Công an huyện Nậm Pồ đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ – XPHC đối với Thào A Xinh với hình thức: Phạt cảnh cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng: M1:3,44 gam Heroine và: M2:0,85 gam Methamphetamine được cho vào 02 (hai) túi nilon màu trắng; 01(một) lọ nhựa có nắp đậy màu trắng kích thước 02 cm X 4 cm không còn giá trị sử dụng và toàn bộ bao bì niêm phong là vật chứng vụ án Vàng A Thánh.
Tịch thu 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ tổng là 20.000 VNĐ nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật đã được niêm phong.
[8] Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Ngày 16 tháng 8 năm 2024 bị cáo Vàng A T đã có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; HĐXX quyết định miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát; Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều đã thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không khiếu nại hoặc ý kiến gì. Như vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 251 BLHS;
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A T phạm tội " Mua bán trái phép chất ma tuý".
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng A T: 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03 tháng 6 năm 2024.
3.Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng: M1:3,44 gam Heroine và: M2:0,85 gam Methamphetamine được cho vào 02 (hai) túi nilon màu trắng; 01(một) lọ nhựa có nắp đậy màu trắng kích thước 02 cm X 4 cm không còn giá trị sử dụng và toàn bộ bao bì niêm phong là vật chứng vụ án Vàng A T.
Tịch thu 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ tổng là 20.000 VNĐ ( Hai mươi nghìn) đồng nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật đã được niêm phong.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 và 19 tháng 7 năm 2024 giữa Công an huyện Nậm Pồ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nậm Pồ.
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Vàng A T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28 tháng 8 năm 2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Bách |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM PỒ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vàng A Thánh phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy"
