|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/DS-PT Ngày 27 tháng 8 năm 2024 “V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Viết Anh;
Ông Phạm Văn Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 78/2024/QĐ-PT ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn:Ông Nguyễn Thái H1 (Nguyễn Văn H2), sinh năm 1961 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Bên nguyên đơn):
-
Bà Hán Thị H3, sinh năm 1951
Địa chỉ: Khu H, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1974
Địa chỉ: Khu 9, xã Vạn Xuân, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ -
Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1976
Địa chỉ: Khu 5, xã Vạn Xuân, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ -
Anh Nguyễn Công B, sinh năm 1977
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ -
Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1981
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ -
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969
Địa chỉ: Khu A, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1966
Địa chỉ: Khu H, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Chị Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1997
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ
(Những người liên quan trên ủy quyền cho bà Nguyễn Thị H tham gia tố tụng, bà H có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Bên bị đơn):
-
Cụ Trần Thị T3, sinh năm 1934
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Cụ Hán Thị L1, sinh năm 1949
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.Cùng các con là:
-
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958
Địa chỉ: Khu E, xã V, T, tỉnh Phú Thọ. -
Bà Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1964
Địa chỉ: Khu E, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Ông Nguyễn Bá N1, sinh năm 1968 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1977
Địa chỉ: Khu G, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Chị Nguyễn Thị H6, sinh năm 1977
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Chị Nguyễn Thị H7, sinh năm 1980
Địa chỉ: Khu 4, xã Xuân Huy, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ -
Chị Nguyễn Thị Minh H8, sinh năm 1982
Địa chỉ: Khu G, TT H, huyện T, tỉnh Phú Thọ -
Anh Nguyễn Bá H9, sinh năm 1986
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Bà Hán Thị H10, sinh năm 1966 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Những người trên đều ủy quyền cho bà Hán Thị H10, bà H10 có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác:
-
UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ:
Đại diện theo pháp luật: Ông Triệu Công H11 - Chủ tịch UBND xã
Đại diện theo ủy quyền: Ông Hán Đức B1 - Cán bộ địa chính xã
(Theo văn bản ủy quyền ngày 30/6/2023) (Có đơn xin giải quyết vắng mặt) -
Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1960 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu F, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1942 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị H - Là nguyên đơn.
Bà Hán Thị H10 - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà và ông H2 chỉ là hàng xóm không có quan hệ họ hàng gì.
Bố mẹ chồng bà là cụ ông Nguyễn Văn T5 và cụ bà Hán Thị N3, cụ T5 chết năm 1994 khi chết không để lại di chúc, cụ N3 chết năm 2014, cụ N3 chết có để lại di chúc vào ngày 31/3/1996 (bà đã nộp cho Tòa án).
Bố mẹ chồng bà có 5 người con:
-
Ông Hán Văn T6 (đã chết) có vợ là bà Hán Thị H3, ở tại khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Ông T6 và bà H3 có 4 người con là:
- + Nguyễn Mạnh T, ở khu I, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- + Nguyễn Thị T1, ở khu E, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- + Nguyễn Công B, ở khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- + Nguyễn Thị P, ở khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
-
Ông Nguyễn Văn D (đã chết năm 2008) bà là vợ của ông D.
Ông D và bà sinh được 01 người con là:
Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1997 ở tại Khu H, xã V, huyện T (N đang ở cùng với bà).
- Ông Nguyễn Văn H12 (Hiện nay đã mất tích và được Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 01 ngày 20/9/2021 của TAND huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ).
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1966 ở tại Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969 ở tại Khu A, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Khi bà về làm dâu vào năm 1987 thì vợ chồng bà ở cùng với bố mẹ chồng và cô út là cô L, còn những người khác đã xây dựng gia đình riêng không ở cùng với bố mẹ bà nữa, cô L cũng đi lấy chồng khoảng vào 1994, từ đó vợ chồng bà sống trên mảnh đất của bố mẹ chồng nên khi chồng bà chết vào năm 2008 thì nhà nước giao cho bà quản lý, mảnh đất trên đứng tên bà.
Theo bản đồ 299, gia đình bà có diện tích 1.945m², đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc đất của bố mẹ chồng bà là cụ ông Nguyễn Văn T5 và cụ bà Hán Thị N3 để lại, chồng bà là Nguyễn Văn D (tên gọi khác Nguyễn Phi H13) chết 2008 nên hiện nay trên trích lục bản đồ quản lý ở các cấp đất đều đứng tên bà. Năm 2014 nhà nước đo đạc lại thì thửa đất trên vẫn đứng tên bà nhưng bà không được biết thuộc tờ bản đồ, số thửa, diện tích là bao nhiêu. Bởi vì, thời điểm đó bà không có ở nhà nên ông N1 đứng ra kê khai và đo đạc cho bà (Ông N1 không có quan hệ anh em họ hàng gì với bà, chỉ là hàng xóm).
Bà và gia đình ông Nguyễn Văn H2 (tên gọi khác là Nguyễn Thái H1) là hàng xóm với nhau. Khi bà về làm dâu nhà chồng vào năm 1987 thì đã thấy có 6 ngôi mộ của gia đình ông H1 đặt ở trong đất vườn của gia đình nhà bà, ông H1 có nói mộ đó đã đặt khoảng từ năm 1979, đến năm 2003 gia đình ông H1 tiếp tục đặt thêm 02 ngôi mộ vào thửa đất trên của nhà bà, bà không đồng ý nhưng họ cứ đặt và đánh đuổi bà. Bà có viết đơn ra UBND xã V giải quyết. Ngày 28/2/2003 UBND xã V đã lập biên bản kiểm tra hiện trạng đất và yêu cầu gia đình ông H1 không được xây dựng kiên cố và không được để thêm mồ mả. Tổng diện tích gia đình ông H1 xây mô mả trên diện tích đất của gia đình bà vào khoảng 120m². Nay bà chỉ đồng ý cho gia đình ông H1 giữ nguyên 08 (tám) ngôi mộ trên diện tích đất 120m² trên đất nhà bà.
Cạnh thửa đất nhà bà phía sau ngôi nhà giáp đất nhà ông Nguyễn Văn C có một thửa đất trống của UBND xã bỏ không ai làm, ông H1 có em trai là ông Nguyễn Bá N1 và vợ là Hán Thị H10, ở tại khu H, xã V, huyện T, có canh tác ở thửa đất này từ khi bà về nhà chồng đã thấy gia đình ông N1 khai thác thửa đất trên. Năm 2014 khi đó ông N1 tự động đo đạc mảnh đất trên cho bà và lấy phần đất nhà bà ở gần khu mộ để xây rộng ra từ 120m² lên 172,5m², lúc đó do bà không ở nhà (bà đi làm ăn) nên bà không biết. Khi về thấy cọc sơn đỏ đóng ở vườn, bà lên hỏi ông N1 thì ông nói bà đã đo đạc và đo như vậy. Bà không đồng ý nên yêu cầu đo đạc lại, đội đo đạc của nhà nước đến 3 lần nhưng ông N1 không cho đo đạc lại, còn bản đồ số hiện nay theo bản vẽ của nhà nước đo đạc lại năm 2014 như thế nào bà chưa được biết, đề nghị Tòa án xem xét. Năm 2016, gia đình ông H1 đã xây quây lại toàn bộ khu mộ trên diện tích là 172,5m² thì bà không đồng ý, bà chỉ đồng ý cho gia đình ông H1 giữ nguyên 09 ngôi mộ trong đó có 07 ngôi mộ nhà ông H1 còn 01 ngôi mộ của gia đình bà Nguyễn Thị Đ, còn 01 ngôi mộ của gia đình ông Nguyễn Văn N2, trên diện tích đất 120m² trên đất nhà bà, diện tích đất còn lại là 52,5m² thì gia đình ông H1 phải trả lại cho bà.
Hiện nay phần mồ mả gia đình ông H1 xây dựng trên đất nhà bà không có đường đi vào mà phải đi nhờ vào cổng và đất nhà bà. Do gia đình ông H1 thách thức, chèn ép đối xử với bà tệ bạc nên bà cũng không đồng ý cho đường đi vào mộ mà chỉ đồng ý phần diện tích đặt mộ như ý kiến ở trên.
Bà xin xác nhận hiện tại khuôn viên mộ là có 09 ngôi mộ trong đó có 07 ngôi mộ nhà ông H1 còn 01 ngôi mộ của gia đình bà Nguyễn Thị Đ, còn 01 ngôi mộ của gia đình ông Nguyễn Văn N2.
Nay bà yêu cầu: Gia đình ông H1 phải trả lại diện tích đất 52,5m² đã lấn chiếm của gia đình bà. Còn phần đường lối vào bà đồng ý cho đường đi vào khu mộ như bản vẽ ngày 12/10/2023 của phòng Đăng ký quyền sử dụng đất đo của phòng Tài nguyên môi trường đo vẽ và thanh toán phần đất cho gia đình bà bằng tiền theo quy định pháp luật.
Về phía đất ranh giới giáp đất ông N1, bà H10 bà đề nghị Tòa án giải quyết ranh giới rõ ràng phần đất của gia đình nhà bà ở ranh giới đó là hết phần bờ rào cây tính từ chỗ đất hạ cốt trồng sắn lên trên khoảng 2m như bản đo vẽ ngày 12/10/2023 mà bà đã chỉ để đo vẽ theo điểm 20, 33 vì phần này là tả ly cao muốn xây tường rào chỉ có thể xây theo điểm này còn không thể xây theo điểm 23, 24 được mong Tòa án xem xét.
Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên quan điểm của mình như đã trình bày ở trên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Hán Thị H10 trình bày:
Bố chồng bà là Nguyễn Đình H14, chết năm 2000, mẹ chồng bà là Trần Thị T3, hiện nay mẹ chồng bà đang ở với ông H1, bố chồng bà có một vợ nữa là cụ Hán Thị L2, sinh năm 1949, ở tại Khu H, xã V, huyện T ở cùng em trai Nguyễn Bá H9. Bố bà có 2 vợ sinh được 10 người con là:
Con của cụ H14 và cụ T3 gồm:
-
Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1958
Địa chỉ: Khu E, xã V, T, tỉnh Phú Thọ. -
Ông Nguyễn Thái H1, sinh năm 1961
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Bà Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1964
Địa chỉ: Khu E, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Ông Nguyễn Bá N1, sinh năm 1968
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1977
Địa chỉ: Khu G, xã V, T, tỉnh Phú Thọ.
Con của cụ H14 và cụ L2 gồm:
-
Chị Nguyễn Thị H6, sinh năm 1977
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Chị Nguyễn Thị H7, sinh năm 1980
Địa chỉ: Khu 4, xã Xuân Huy, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ -
Chị Nguyễn Thị Minh H8, sinh năm 1982
Địa chỉ: Khu 7, TT Hưng Hóa, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ -
Anh Nguyễn Bá H9, sinh năm 1986
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. -
Anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Gia đình bà và gia đình nhà bà H không có quan hệ họ hàng gì mà chỉ là hàng xóm láng giềng với nhau.
Nguồn gốc đất trên là do tổ tiên bà để lại từ lâu đời, năm 1979 xã làm đường giao thông và làm đất ở cấp cho các hộ dân ở ngoài đầu làng thuộc khu vực M, lúc đó mồ mả nhà bà ở đó nên gia đình đã di chuyển mồ mả về khu vực D, Chùa T7 (nay khu đất bà H đang ở khu H, xã V), khi đó gia đình bà di chuyển 03 ngôi (là ngôi mộ là ông bà của bố mẹ chồng bà) về đây. Toàn bộ phần diện tích trên lúc đó bố mẹ chồng bà trực tiếp quản lý, khai thác đất trên không tranh chấp với ai. Năm 1982 gia đình nhà bà H trực tiếp là cụ ông Nguyễn Văn T5, cụ bà Hán Thị N3 (là bố mẹ chồng của bà H nay đã chết) đến ở đó, từ lúc đó hai bên đã tranh chấp đến nay, đã có lúc xảy ra sô sát, các cấp đã giải quyết nhiều nhưng chưa xong.
Quá trình đặt mộ ở đất trên gia đình bà cũng đặt thêm 2 ngôi mộ (là mộ của ông nội của chồng bà và em trai chồng bà) nữa, ngôi mộ cuối cùng là của bố bà làm năm 1980. Đến năm 1994 gia đình bà đặt thêm 01 ngôi mộ của bà nội chồng bà là Hán Thị H15, đến cuối năm 2003 gia đình bà đặt thêm mộ bố chồng bà là cụ Nguyễn Đình H14.Tổng số ngôi mộ gia đình bà đang đặt ở đó là 07 ngôi.
Thực tế ở khuôn viên mộ đó có 9 ngôi mộ trong đó có 07 ngôi của gia đình bà còn 01 của gia đình bà Nguyễn Thị Đ (mộ của bố đẻ bà Đ), còn 01 ngôi của gia đình ông Nguyễn Văn N2 (mộ bà nội của ông N2). Bà được biết mộ của gia đình bà Đ đặt từ năm 1979 cùng với mộ của ông bà của bố mẹ chồng bà, còn mộ của gia đình ông N2 đặt từ năm 1974.
Trước năm 1989 đất này do ông H1, bà B2 quản lý sử dụng đến năm 1989 bố mẹ chồng bà giao đất trên cho vợ chồng bà canh tác, sử dụng. Vợ chồng bà cho cụ T5, cụ N3 (Bố mẹ chồng bà H), chị L (em chồng bà H) mượn nhưng không có giấy tờ gì. Phần diện tích đất đặt ngôi mộ từ trước không rào rậu, còn phần đất trống nào thì cụ T5, cụ N3 làm màu, trồng cây sơn.
Đến năm 2003 gia đình bà bốc mộ cho bố chồng bà là cụ Nguyễn Đình H14 và xây nấm cho 6 ngôi mộ còn lại nên gia đình bà H mới làm đơn ra xã nên ngày 28/2/2003 U và lập Biên bản thống nhất như biên bản đó phần mộ diện tích 120m². Gia đình bà sử dụng đặt mộ từ đó đến nay gia đình bà không cơi nới hay đặt thêm mộ gì, đến ngày 16/9/2015 bà H làm đơn đề nghị về việc trên UBND xã đã lập Biên bản làm việc, trong buổi làm việc đó các bên cũng đã thống nhất các mốc giới rõ ràng, sau buổi đó gia đình bà đã xây quây toàn bộ ngôi mộ trên theo biên bản này và vẫn để như vậy từ đó đến nay.
Nay bà H cho rằng trước kia phần mộ chỉ là 120m², nhưng khi đo đạc năm 2014 thì diện tích đất mồ mả của gia đình bà là 172,5m² có sự chênh lệch này là do khuân viên hiện nay là có cả 02 ngôi mộ, 01 ngôi mộ của gia đình bà Nguyễn Thị Đ, còn 01 ngôi mộ của gia đình ông Nguyễn Văn N2 nên tổng diện tích mới lên là 172,5m², chứ bản thân các ngôi mộ của gia đình bà từ năm 2003 đến nay vẫn không thay đổi gì. Diện tích 172,5m² là do gia đình bà H tự đo đạc chứ nhà nước chưa chính thức đo đạc bao giờ vì hai gia đình chưa thống nhất được mốc giới.
Năm 1989 bố mẹ chồng bà cho vợ chồng bà cả 3 thửa đất thể hiện trên bản đồ 299 là thửa số 100, thửa số 101, thửa số 118 (trong đó thửa số 118 chính là thửa đất nhà bà H đang sử dụng bây giờ), còn thửa 107 là cho chú Nguyễn Văn K, vợ là Nguyễn Thị M nay con trai ông K, bà M là ông Nguyễn Văn C đang sử dụng (là thửa 107). Hiện nay nhà nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà ở thửa số 100 rồi, nay thửa đất số 101 gia đình bà vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền dụng đất. Phần ranh giới giữa phần đất gia đình bà H đang sử dụng phía sau nhà là giáp đất nhà bà, nhưng ranh giới vẫn chưa rõ ràng, nên chưa đo được diện tích cụ thể của hai thửa 101, 118 (Theo bản đồ 299). Nay bà H bảo đất đó giáp ranh nhà ông C là không đúng vì phần đất đó là của vợ chồng bà, diện tích đất nhà ông C là thửa 107 theo bản đồ 299 chỉ giáp đất nhà bà chứ không giáp đất nhà bà H đang sử dụng.
Đối với phần đất nhà bà H đang ở bà H10 cho rằng là đất của cha ông nhà bà để lại nên phần mồ mả của gia đình bà ở đó đương nhiên là đất của gia đình nhà bà nên đề nghị Tòa án buộc gia đình bà H phải trả lại phần đất mồ mả cho gia đình bà và cắt lối đi vào mồ mả.
Còn đối với phần ranh giới đất giữa gia đình nhà bà và gia đình nhà bà H đang tranh chấp thì theo gia đình bà ranh giới là theo điểm 23, 25 (trích đo bản đồ đo vẽ của Văn phòng đăng ký đất tháng 10/2023) chứ không phải như UBND xã V cung cấp là thẳng từ cây Lim ra. Gia đình bà yêu cầu phần ranh giới này giữ nguyên theo điểm 23, 25 còn phần đất nhà bà H đang sử dụng gia đình bà trả về cho nhà nước và nhà nước làm thế nào thì tùy.
Bị đơn ông Nguyễn Thái H1 (Nguyễn Văn H2) trình bày:
Ông hoàn toàn nhất trí về lời khai của bà H10 về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất, của bố mẹ và các anh chị em trong gia đình.
Đối với phần đất hiện nay bà H đang sử dụng ông không có ý kiến gì, chỉ riêng phần mồ mả đề nghị bà H trả cho gia đình ông phần diện tích đất đã xây mồ mả theo diện tích xây rào xung quanh phần mồ mả và cho gia đình ông đường đi vào khu mồ mả còn đi đường nào là do bà H quyết định nếu bà H yêu cầu trả tiền phần đất ông cũng đồng ý theo giá nhà nước quy định.
Đối với phần ranh giới giữa nhà bà H và nhà bà H10, ông N1 mong hai gia đình tự thỏa thuận được ông không có ý kiến gì. Phần ranh giới này khi ông còn sử dụng là từ cây Lim thẳng ra đường là ranh giới giữa hai nhà còn khi sử dụng hai bên tranh chấp với nhau như thế nào thì ông không biết.
Tại phiên tòa ông H2 có ý kiến trình bày: Ông bác bỏ lời khai từ trước đến nay của ông và ông có quan điểm như lời khai của bà H10 đã trình bày.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ủy quyền cho bà H tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm bà H trình bày: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mà bà đại diện theo ủy quyền đều nhất trí với nội dung yêu cầu khởi kiện của bà.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ủy quyền cho bà H10 tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm bà H10 trình bày: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan mà bà đại diện theo ủy quyền đều nhất trí với nội dung trình bày của bà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã V, người đại diện theo ủy quyền là ông Hán Đức B1 trình bày:
Nguồn gốc quyền sử dụng đất mà bà H đang sử dụng và tranh chấp với ông N1, bà H10 thuộc thửa 118, tờ bản đồ số 06 bản đồ 299 và theo bản đồ đo vẽ năm 2015 thuộc thửa số 142, tờ bản đồ số 27 thuộc khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ, loại đất là 400m² đất ở còn lại là đất trồng cây lâu năm khác. Bản đồ 299 đo năm 1988 đến năm 1997 mới ghi chủ tên cụ T5 (bố chồng bà H). Từ đó xác định là của cụ T5. Cụ T5 và vợ ông T5 là cụ Hán Thị N3, bản thân cụ T5 và cụ N3 cũng ở và sử dụng thửa đất trên suốt từ năm 1984 cho đến khi cụ T5, cụ N3 chết, nên cần xác định cụ T5, cụ N3 có quyền hợp pháp trên thửa đất này.
Sau khi cụ T5, cụ N3 ở cùng với con trai và con dâu là bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn D, trên thửa đất này, năm 2008 ông Nguyễn Văn D đã mất, năm 1994 cụ T5 chết, năm 2014 cụ N3 chết, từ khi cụ T5, cụ N3 chết bà H và con bà H trực tiếp sử dụng thửa đất trên từ đó cho đến nay.
Nguồn gốc các ngôi mộ đặt trên đất mà bà H hiện đang sử dụng là của gia đình ông Nguyễn Thái H1, do trước khi cụ T5, cụ N3 sử dụng thì cụ Nguyễn Văn T8 (ông nội của ông H1) sử dụng và quản lý. Sau đó đến khoảng sau năm 1980, khi Hợp Tác X quy hoạch lại rộng đất thì cụ T5 là bố chồng của bà H quản lý và sử dụng nên mới có các ngôi mộ đặt như vậy.
Thực tế từ trước năm 1980 ông T8 quản lý và sử dụng thửa đất trên thì đã đặt một số ngôi mộ của gia đình trên thửa đất đó. Hiện tại vẫn còn 09 ngôi mộ của các nhà. Trong 09 ngôi mộ trên thì có 07 ngôi là của nhà ông H1 (cháu nội trưởng của của ông T8) còn 01 ngôi là của gia đình ông Nguyễn Văn N2, 01 ngôi mộ của gia đình bà Nguyễn Thị Đ, trước đây gia đình ông T8 sử dụng theo kiểu tự phát, mà mồ mả nhà nước chưa quy hoạch chung nên dân làng ai tiện chỗ nào thì đặt chỗ đó, từ khi quy chủ về Hợp tác xã mới lên bản đồ đo vẽ và người được quy chủ quản lý trực tiếp. Ngày 28/02/2003 UBND xã đã hòa giải 1 lần và hai bên nhất trí với diện tích phần khu mộ là 120m² với 9 ngôi mộ, hiện nay các ngôi mộ đã được xây, chát và xây tường bao quanh khu mộ như bản đo vẽ ngày 15/02/2023, diện tích trong khuôn viên ngôi mộ là 175,9m².
Việc đặt mộ của các gia đình trong thửa đất trên là có trước khi nhà nước lên bản đồ đo vẽ nó là thực trạng chung của nhà nước ta từ trước, để đảm bảo giá trị tâm linh người Việt thì đề nghị Tòa án và các đương sự tôn trọng phần diện tích đất đã đặt mộ có từ trước, còn sau khi có quy hoạch của nhà nước thì yêu cầu các gia đình không đặt mộ nơi đất đã có quy hoạch cho chủ mới và đặt mộ theo quy hoạch đất khu mộ của địa phương.
Nguồn gốc đất giáp phía trên mà hiện nay bà H, bà H10, ông N1 đang tranh chấp theo trích đo hiện trạng của Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất huyện T đo vẽ tháng 10/2023 thì các điểm từ 23, 21, 20, 33, 23 phía trên là của nhà ông N1, bà H10 đang sử dụng. Còn điểm 23, 21 trở xuống là đất của nhà bà H đang sử dụng. Cả hai gia đình đều không có giấy tờ gì chứng minh ngoài bản đồ 299, và trên thực tế các hộ vẫn sử dụng diện tích đất này. Trước đây diện tích đất ông N1, bà H10 đang sử dụng là do ông H1 (anh trai ông N1) quản lý sử dụng, sau đó ông H1 cho ông N1, bà H10 sử dụng nên trong bản đồ 299 mới bổ sung thêm tên ông N1, bà H10, còn phần đất của bà H vẫn đứng tên ông T5 (bố chồng bà H). Cây L3 đã từ lâu đời của đây là cây Lim của cha ông nhà ông H1, ông N1 trồng. Phần tiếp giáp đất giữa nhà bà H và nhà ông N1, bà H10 theo bản đồ 299 là thẳng cây Lim ra phía đường theo các điểm 21-23, do phần tiếp giáp này hiện nay là tả ly rất cao khoảng hơn 2m, phần đất từ điểm 21-23 trở lên đất nhà bà H10 là đất đồi cao, còn từ phần đất theo điểm 21-23 trở về đất nhà bà H là đất đã san rất thấp, nên để đảm bảo cho hai gia đình xây tường rào nên đề nghị Tòa án giao cho gia đình bà H phần diện tích đất theo các điểm 21,24,23,33,20 cho bà H quản lý sử dụng để xây tường rào ngăn cách là phù hợp. Sau này cả hai gia đình phải đến cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Giá đất ở theo bảng giá của Nhà nước hiện nay đối với phần đất đang tranh chấp có giá 410.000 đồng/m² và đất vườn có giá 110.600 đồng/m².
Xác nhận ông Nguyễn Văn H2 và ông Nguyễn Thái H1 là một người.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bố bà và bố ông H1 là chú cháu, bố bà là chú còn bố ông H1 là cháu. Bố bà là cụ Nguyễn Thị B3 chết năm 1962, khoảng năm 1979-1980 bà cùng gia đình ông H1 di mộ của bố bà về tại khu mộ nhà ông H1 (là khu đất mà hiện nay nhà bà H đang tranh chấp). Do bố bà sinh được một mình bà, ngoài ra không còn ai khác, nên bà là người trực tiếp thờ cúng bố bà. Vì bố bà có phần mộ trên khu đất đang có tranh chấp giữa nhà ông H1 và bà H, bà đề nghị phần đất gia đình bà đã đặt mộ và đã xây khuân viên yêu cầu giữ nguyên, không động chạm đến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Nguyễn Văn N2 trình bày:
Cụ và ông H1, bà H là quan hệ hàng xóm, không có anh em gì với nhau. Gia đình cụ có một ngôi mộ nằm giữa thửa đất đang tranh chấp và là ngôi mộ đặt đầu tiên trên thửa đất đó. Nguồn gốc khi gia đình cụ đặt ngôi mộ lúc đố là khu đất hoang, rậm rạp. Gia đình cụ đặt ngôi mộ đó từ năm 1974, mộ cụ tam đại của gia đình cụ là cụ bà mất năm 1947, đến năm 1974 thì gia đình di mộ về khu đất hiện đang tranh chấp. Thời điểm gia đình cụ đặt ngôi mộ đó đất của cụ Nguyễn Đình H14 là bố đẻ của ông H1, bà H. Phần đất có mộ là đất tâm linh nên giữ nguyên, hai bên nên giải quyết tình cảm với nhau.
Tòa án nhân dân huyện Tam Nông đã tiến hành thẩm định, định giá, toàn bộ phần diện tích đất đang tranh chấp, đồng thời cơ quan Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất cũng đã tiến hành đo đạc toàn bộ phần tranh chấp trên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 04/6/2024, Tòa án nhân dân (TAND) huyện T đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a, khoản 1, điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 39; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 165; khoản 1 Điều 166;Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 175; khoản 1 Điều 176, Điều 248, Điều 254 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều 170; khoản 1 Điều 203 luật đất đai năm 2013;
Căn cứ điểm đ Điều 12; khoản 1, 4 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Xử:
- Không chấp nhận yêu cầu của bà H về việc yêu cầu gia đình ông H1 phải trả lại phần diện tích đất đã xây mộ 55,9m², Giữ nguyên phần diện tích đất đã xây mộ theo các điểm 34,35,36,37,34 = 175,9m² cho các gia đình có mộ trong khuôn viên. Các gia đình không được phép đặt thêm bất kỳ ngôi mộ nào trong phần đất trên.
- Chấp nhận yêu cầu của gia đình ông H1 cắt lối đi vào khu mộ cho các gia đình. Xác định lối đi vào mộ các các gia đình theo các điểm 15,16,17,18,19,26,27,28,29,30,31,32,15 = 52,9m².
-
Chấp nhận yêu cầu bà H về việc yêu cầu gia đình ông H1 phải trả tiền đất lối đi vào phần diện tích đất theo số tiền là:
Phần đất theo các điểm 18,19,26,27,28,29,32,15,16,17,18,19 = 42,2m² gia đình ông H1 phải thanh toán số tiền cho bà H là 2.333.600₫ /3 = 777.800đ. phần đất theo các điểm 29, 30, 31, 32, 29 = 10,7m2 gia đình ông H1 phải thanh toán số tiền 1.183.000đ/3 = 394.000đ. Tổng số tiền gia đình ông H1 phải thanh toán cho gia đình bà H là 1.171.800đ (Một triệu một trăm bảy mốt nghìn tám trăm đồng).
-
Chấp nhận một phần yêu cầu của Nguyễn Thị H về ranh giới đất đất tranh chấp giữa nhà bà H, ông N1, bà H10 như sau:
Xác định ranh giới giữa hai nhà theo các điểm 23-21.
Gia đình bà H được quản lý sử dụng diện tích đất theo các điểm 1,2,3,...,9,10,11,12,23,24,25,1 = 1.930,6m² nhưng trừ đi phần khu mộ đã giao cho gia đình ông H1 là 175,9m² và phần đường theo chỉ giới 29, 30, 31, 32, 29 = 10,7m² còn lại là 1.744m² (Tất cả các điểm trên Có sơ đồ trích đo kèm theo).
Gia đình ông N1, bà H10, ông H1 có nghĩa vụ thu hoạch cây Lim để không ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của gia đình bà H.
Đối với các phần đất không nằm trong diện tích bản đồ 299 của thửa đất trên trừ phần đường cắt vào mộ và khuôn viên các ngôi mộ, còn các phần khác gia đình bà H đã sử dụng từ nhiều năm nay có quyền liên hệ với chính quyền địa phương xem xét phù hợp với quy định pháp luật thì cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo quy định.
Gia đình bà H có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan chức năng làm thủ tục cấp đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/6/2024, bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm đề nghị xem xét các nội dung sau:
Bản án sơ thẩm bác yêu cầu của bà đòi gia đình ông H1 phải trả lại phần diện tích đất đã xây mộ 55,9m² là không đảm bảo quyền lợi cho bà, bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà.
Xác định cây Lim thuộc quyền sử dụng của gia đình bà.
Trong bản vẽ ghi diện tích 85,2m² nhưng bản án ghi 52,2m² buộc ông H1 trả tiền cho bà bà không đồng ý, bà đề nghị xác định cả 85,2m² là đất của bà.
Bà không đồng ý bản án tuyên toàn bộ phần diện tích đất chỉ giới 23,33,20,24 thuộc quyền sử dụng của ông N1 mà theo bà ½ thuộc quyền sử dụng của bà.
Ngày 12/6/2024, bà Hán Thị H10 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo với nội dung:
Bà không đồng ý với bản án sơ thẩm buộc gia đình bà phải nộp tiền đất mở lối đi vào khu mộ cho bà H.
Bà không đồng ý bản án buộc gia đình bà phải thu dọn cây gỗ Lim để trả lại phần đất cho bà Hồng
Bà không đồng ý bản án tuyên bà phải nộp tiền thẩm định đất và án phí.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị H, bà Hán Thị H10 giữ nguyên kháng cáo và những căn cứ kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, bà Hán Thị H10 giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông.
(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn, bà Hán Thị H10 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo: Xem xét nội dung kháng cáo của bà H:
Thứ nhất: Đối với nội dung kháng cáo về phần diện tích đất 55,9m²:
Nguồn gốc thửa đất trong đó có phần đất đặt các ngôi mộ mà bà H hiện đang sử dụng trước kia là của cụ Nguyễn Văn T8 (ông nội của ông H1) sử dụng và quản lý thửa đất này và trên đó có đặt các ngôi mộ. Hiện tại vẫn còn 09 ngôi mộ, trong 09 ngôi mộ trên thì có 07 ngôi là của nhà ông H1 (cháu nội trưởng của của ông T8) còn 01 ngôi là của gia đình ông Nguyễn Văn N2, 01 ngôi mộ của gia đình bà Nguyễn Thị Đ. Sau này, gia đình cụ T5, cụ N3 bố mẹ chồng bà H mới đến ở trên thửa đất. Từ trước gia đình ông T8 sử dụng theo kiểu tự phát, mồ mả nhà nước chưa quy hoạch chung nên dân làng ai tiện chỗ nào thì đặt chỗ đó. Khi quy chủ về Hợp tác xã lên bản đồ địa chính và người được quy chủ quản lý trực tiếp đó là cụ T5, cụ N3 bố mẹ chồng bà H .
Như vậy, khẳng định các ngôi mộ có trước khi cụ T5, cụ N3 về ở trên thửa đất. Do vậy, cần giữ nguyên diện tích đã có ngôi mộ thuộc của gia đình ông H1, bà Đ, ông N2. Khi cụ T5, cụ N3 sử dụng thửa đất này không có tranh chấp gì về các ngôi mộ. Năm 2003 có tranh chấp xảy ra giữa bà H, ông H1 và đã được UBND xã V (nay là xã V) giải quyết bằng biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 28/02/2003 với nội dung: Phần mộ nhà ông H1 để lại diện tích 120m². Đến năm 2015 hai bên lại có đơn đề nghị giải quyết, tại biên bản làm việc ngày 16/9/2015 đã thống nhất các mốc giới đối với phần diện tích các ngôi mộ đặt trên thửa đất bà H. Sau đó gia đình ông H1 xây tường bao quanh đối với phần mộ trên cơ sở các mốc giới của biên bản làm việc ngày 16/9/2015. Hiện nay diện tích của phần mộ đo vẽ có diện tích 175,9m². Bà H cho rằng khi xây tường bao quanh phần mộ, gia đình ông H1 đã lấn chiếm phần diện tích 55,9m² của gia đình bà. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H, ông H1, bà Đ đều khẳng định biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 28/02/2003 không có mặt bà Đ, ông N2. Do vậy, bà Đ, ông H1 cho rằng biên bản ngày 28/02/3003 chỉ là thỏa thuận phần diện tích đất của các ngôi mộ của gia đình ông H1, ngoài ra trên đó còn diện tích đất của 02 ngôi mộ của gia đình bà Đ, ông N2 chưa được các bên xác định. Do vậy, diện tích đo 175,9m² hiện nay xây bao quanh trong đó có cả 02 ngôi mộ của gia đình bà Đ và gia đình ông N2. Phần diện tích tăng thêm từ 120m² lên 175,9m² tăng 55,9m² là diện tích của 02 ngôi mộ của gia đình ông N2, bà Đ và một phần do sai số trong quá trình đo đạc. Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định phần diện tích khu mộ của gia đình ông H1, bà Đ, ông N2 là 175,9m² theo trích đo ngày 15/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất huyện T. Bà H cho rằng gia đình ông H1 lấn chiếm phần diện tích 55,9m² là không có căn cứ. Bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện đối với nội dung này của bà H là đúng pháp luật, đồng nghĩa với kháng cáo không được chấp nhận.
Thứ hai: Bà H đề nghị Toà án xác định cây Lim thuộc quyền sử dụng của gia đình bà. Hội đồng xét xử nhận định: Tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện tại Biên bản làm việc ngày 21/6/2016 bà H, ông N1 thừa nhận cây Lim là của hộ ông N1. Biên bản làm việc có sự chứng kiến của ông H1, đại diện khu dân cư, đại diện cán bộ địa chính và đại diện Ủy ban nhân dân xã V. Ngoài ra tại bản tự khai ngày 14/11/2023 UBND xã V cũng xác định cây Lim có từ lâu đời là của gia đình ông N1, các chứng cứ trên phù hợp với trình bày của ông N1, bà H10, ông H1 về việc cây Lim là thuộc quyền sử dụng của gia đình ông N1. Bà H kháng cáo cho rằng cây Lim thuộc của gia đình bà nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh cho trình bày của mình là có căn cứ. Bản án sơ thẩm xác định cây Lim thuộc quyền sử dụng của ông N1 là có căn cứ, đúng pháp luật. Do vậy, kháng cáo của bà H không được chấp nhận.
Nội dung kháng cáo thứ ba: Trong bản vẽ ghi diện tích 85,2m² nhưng bản án ghi 52,2m² buộc ông H1 trả tiền cho bà bà không đồng ý, bà đề nghị xác định cả 85,2m² là đất của bà. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã giải thích cho bà H về diện tích 85,2m² trên bản đo vẽ hiện trạng, trong bản án sơ thẩm đã nhận định diện tích đất trên là diện tích đất nằm ngoài không nằm trong diện tích bản đồ 299. Gia đình bà H đã sử dụng từ nhiều năm nay có quyền liên hệ với chính quyền địa phương xem xét phù hợp với quy định pháp luật thì đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng theo quy định. Bà H nhất trí và không có ý kiến gì. Do vậy, nội dung kháng cáo này của bà H cũng không được chấp nhận.
Thứ tư: Bà không đồng ý bản án tuyên toàn bộ phần diện tích đất chỉ giới 23,33,20,24 thuộc quyền sử dụng của ông N1 mà theo bà ½ thuộc quyền sử dụng của bà. Về phần tranh chấp ranh giới đất giữa nhà bà H, ông N1, bà H10: UBND xã V xác nhận ranh giới đất giữa hai hộ là từ cây Lim thẳng ra đường theo các điểm 24, 23. Bản thân ông H1 là người sử dụng trước khi ông N1, bà H10 sử dụng cũng khẳng định ranh giới như vậy. Khi đo vẽ trên bản đồ 299 cũng thể hiện ranh giới cũng là điểm 24, 23, nên cần tôn trọng ranh giới từ trước đến nay và ranh giới theo bản đồ 299 thẳng từ cây Lim ra theo điểm 24, 23 theo trích đo ngày 12/10/2023 của Văn phòng Đ1 và phát triển quỹ đất huyện T là phù hợp. Bản án sơ thẩm xác định phần diện tích đất chỉ giới 23,33,20,24 thuộc quyền sử dụng của ông N1 là phù hợp với pháp luật. Bà H kháng cáo không xuất trình được chứng cứ pháp lý, nên nội dung kháng cáo này của bà H cũng không có căn cứ nên không được chấp nhận.
Đối với nội dung kháng cáo của bà Hán Thị H10:
Thứ nhất: Bà H10 không đồng ý với bản án sơ thẩm buộc gia đình bà phải nộp tiền đất mở lối đi vào khu mộ cho bà H. Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như bản đồ địa chính thể hiện thửa đất 118, tờ bản đồ số 6 có các ngôi mộ của gia đình ông H1, bà Đ, ông N2 có chủ sử dụng là ông T5, bà N3. Quá trình sử dụng đất gia đình bà H nộp thuế sử dụng. Do vậy, có căn cứ xác định thửa đất của bà H đang sử dụng là do ông cha để lại. Khu phần mộ gia đình ông H1 nằm trong thửa đất của bà H. Diện tích đất khu mộ không phải là đất thổ cư nên theo quy định của pháp luật không có con đường đi vào. Nay gia đình ông H1 muốn mở lối đi vào khu mộ thì phải có trách nhiệm thanh toán giá trị tiền đất cho bà H theo như bản án sơ thẩm quyết định là phù hợp với pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm ông H1 nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm không có ý kiến gì, nên nội dung kháng cáo này của bà H10 không được chấp nhận.
Thứ hai: Bản án xác định cây Lim thuộc quyền sử dụng của gia đình bà H10. Tuy nhiên, hiện nay cây Lim tán rộng lan sang cả phần diện tích đất của gia đình bà H, ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất của gia đình bà H. Do vậy, bản án quyết định gia đình bà H10 phải thu dọn cây Lim để trả lại phần đất do tán cây Lim lấn sang đất cho bà H là phù hợp với pháp luật, nội dung kháng cáo bà H10 không có căn cứ, không được chấp nhận.
Thứ ba: Bà không đồng ý bản án tuyên bà phải nộp tiền thẩm định đất và án phí. Bản án sơ thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H xác định ranh giới, mốc giới thửa đất của gia đình bà H10, ông N1 và gia đình bà H nên theo quy định của pháp luật tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí ông bà phải chịu là phù hợp với pháp luật, nên nội dung kháng cáo này cũng không được chấp nhận.
Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà H và bà H10.
[3] Về án phí phúc thẩm: Bà H kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm, nhưng bà H thuộc trường hợp miễn án phí. Bà H10 kháng cáo không được chấp nhận, nên phải chịu án phí phúc thẩm,
Những nội dung cần rút kinh nghiệm đối với bản án sơ thẩm: Trong vụ án ông H1 là bị đơn có yêu cầu mở lối đi vào phần mộ, tuy nhiên cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu phản tố của ông H1 là vi phạm thủ tục tố tụng quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm đã giải quyết đối với yêu cầu của ông H1, đảm bảo quyền lợi cho bị đơn và có quyết định về án phí đối với yêu cầu đó, nên không cần phải huỷ bản án sơ thẩm, nhưng cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm trong quá trình giải quyết vụ án cần xem xét yêu cầu phản tố để thụ lý giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu xác định ranh giới đất giữa gia đình bà H với gia đình ông N1, bà H10. Bà H đã có yêu cầu và Toà án đã thụ lý giải quyết, thì việc ông N1 có yêu cầu trùng với yêu cầu của bà H thì chỉ cần giải quyết yêu cầu của bà H đảm bảo quyền lợi cho ông N1. Toà án cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu độc lập này của ông N1, nhưng quyết định của bản án lại tuyên: Do không chấp nhận về phần ranh giới đất của người liên quan nên người liên quan ông N1, bà H10 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) là vi phạm thủ tục tố tụng. Đối với nội dung này cần tuyên chấp nhận yêu cầu của bà H về việc xác định ranh giới đất giữa đất của bà H với ông N1, bà H10 nên ông N1, bà H10 phải chịu án phí mới đúng quy định của pháp luật. Vấn đề vi phạm thủ tục tố tụng này cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm.
Đại diện viện kiểm sát đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bà H, bà H10 và giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, bà Hán Thị H10. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
[2] Về án phí:
[2.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn nên bên nguyên đơn bà H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Do chấp nhận một phần yêu cầu của bà H về phần lối đi nên ông H1 phải chịu 300.000đ tiền án phí nhưng do bà H, ông H1 đều là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định. Do chấp nhận yêu cầu của bà H về phần ranh giới nên người liên quan ông N1, bà H10 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[2.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Hán Thị H10 phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003462 ngày 13/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
Bà Nguyễn Thị H thuộc trường hợp được miễn án phí phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Điêu Thị Bích Lượt |
Bản án số 65/2024/DS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 65/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H - Nguyễn Thái H1 - Tranh chấp quyền sử dụng đất
