Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày: 27/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Khắc Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Vợi và bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đức N, sinh ngày 12 tháng 3 năm 1988 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ an; Nơi cư trú: Xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ Dương Thị Huyền T1 (đã ly hôn), chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 17/10/2008, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản”; ngày 13/6/2011 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 09/01/2017 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 32 tháng tù giam về tội “tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 6 năm 2024 đến nay; Có mặt.

2. Nguyễn Văn M, sinh ngày 24 tháng 10 năm 1997 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Lê Thị T2; có vợ Hoàng Thị P (chưa đăng ký kết hôn) và 02 con; Tiền án: Ngày 18/01/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 22/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 04 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; Ngày 18/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 25 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 tháng 6 năm 2024 đến nay; Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Trần Huy Hoàng A, sinh năm 2001; nơi cư trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

2. Anh Đặng Bá T3, sinh năm 1992; nơi cư trú: Xóm A, xã M, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1971; nơi cư trú: Khối Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 09 tháng 6 năm 2024, Nguyễn Văn MTrần Huy Hoàng A đi ăn cơm rồi về trang trại tại khối B, thị trấn N, huyện N do M quản lý để ngủ thì Nguyễn Đức N đến chơi. N hỏi M có ma túy không để sử dụng, nhưng M không có. Sau đó N nói với MN góp số tiền 500.000 đồng có mua được ma túy ở đâu không về ta cùng sử dụng thì M đồng ý. Do không có tiền mặt nên N đã dùng số tài khoản 030061959633 của mình mở tại ngân hàng S1 chuyển đến số tài khoản 0922283737 của M mở tại ngân hàng V số tiền 800.000 đồng. (Trong đó, 500.000 đồng là tiền N nhờ M đi mua ma túy và 300.000 đồng là N lấy tiền mặt để tiêu xài cá nhân). Sau khi nhận được tiền, M đi ra khu vực Cầu Đ thuộc khối Q, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An gặp một người đàn ông tên B rồi mua của người này một gói ma túy tổng hợp dạng đá với số tiền 500.000 đồng. sau khi mua được ma túy, M đưa về trang trại và lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã chuẩn bị từ trước để ở góc phòng khách ra đổ ma túy đá vào nồi của cóng thủy tinh, dùng bật lửa ga đốt ma túy tan chảy và ngồi sử dụng tại góc phòng khách phía trước phòng ngủ của M. Lần lượt M sử dụng trước, sau đó đến N. Khi MN sử dụng được một lúc thì Hoàng A đi vào có xin NM sử dụng ma túy thì MN đồng ý đưa cho Hoàng A sử dụng. Hoàng A sử dụng được một lúc thì đi ra ngoài giường chơi điện thoại còn MN tiếp tục sử dụng. sau khi sử dụng ma túy xong thì N lấy xe đi về còn MHoàng A cũng đi ngủ.

Đến 14 giờ 45 phút ngày 10 tháng 6 năm 2024, Công an huyện N tiến hành kiểm tra trang trại của Nguyễn Văn M. Quá trình kiểm tra phát hiện tại giường ngủ của M có một bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá, được M dùng cho các đối tượng sử dụng ma túy đá vào tối ngày 09 tháng 6 năm 2024 tại trang trại của M. Công an huyện N đã tiến hành lập biên bản làm việc thu giữ, niêm phong đồ vật là bộ dụng cụ ma túy, trong nồi cóng thủy tinh còn bám dính chất màu đen nghi là ma túy.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã đưa Nguyễn Văn M, Nguyễn Đức NTrần Huy Hoàng A đến trung tâm y tế huyện N để xét nghiệm ma túy, kết quả: Nguyễn Văn M, Nguyễn Đức NTrần Huy Hoàng A đều dương tính với ma túy MET.

Nguyễn Văn MNguyễn Đức N nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận giám định số 658/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 17 tháng 6 năm 2024 của Phòng K Công an Tỉnh N kết luận: “Chất màu đen bám dính trong nồi cóng thủy tinh gửi tới giám định là ma túy; loại Methamphetamine”

Cáo trạng số 69/CT-VKSNĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Văn M, Nguyễn Đức N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, Nghệ An giữ quyền công tố, luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Đức N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Về hình phạt chính:

Căn cứ vào điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù.

+ Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy một túi ni lông đã được niêm phong, bên trong có 01 đoạn vòi nhựa màu trắng, màu đen gắn xuyên qua nắp chai nhựa màu trắng, 01 chiếc máy khò, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ thu giữ của Nguyễn Văn M; 01 bì thư được niêm phong, bên trong có 01 chiếc cóng thủy tinh đã được giám định.

Tại phiên tòa, các bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo M không nói gì; Bị cáo N đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh, khung hình phạt: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng được thu giữ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 09 tháng 6 năm 2024, tại Trang trại do Nguyễn Văn M quản lý, gồm có Nguyễn Đức N, Nguyễn Văn MTrần Huy Hoàng A. N rủ M sử dụng ma túy, M đồng ý, nên N đưa cho M 500.000 đồng để mua ma túy về sử dụng, M đã trực tiếp mua 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 500.000 đồng, đồng thời M chuẩn bị, cung cấp phương tiện, dụng cụ sử dụng chất ma túy. Sau đó, M đổ chất ma túy vào nồi của cóng thủy tinh, dùng bật lửa ga đốt ma túy tan chảy cùng NHoàng A sử dụng. Xét thấy, bị cáo N điều hành, tổ chức cho bị cáo M và anh Hoàng A sử dụng trái phép chất ma, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đối với 02 người trở lên; bị cáo M đồng phạm với bị cáo N, giúp bị cáo N tổ chức việc sử dụng trái phép chất ma, bị cáo M còn phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo M đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố các các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt chính:

Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Ma túy là hiểm họa của xã hội, làm băng hoại các giá trị đạo đức, làm tổn hại đến sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, bị xã hội lên án nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Đức N là người khởi xướng, điều hành việc sử dụng ma túy, đưa tiền để mua chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Văn M là người trực tiếp mua ma túy, chuẩn bị địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy, và là người pha chế, đốt ma túy cho các đối tượng sử dụng. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án kết án. Vì vậy, bị cáo N phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo M, và cần thiết phải cách ly cả hai bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét các bị cáo đều có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đó là khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội các bị cáo tự nguyện đầu thú, bố của bị cáo N có công với cách mạng, bác ruột của bị cáo M là Liệt sỹ, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét thấy: 01 chiếc cóng thủy tinh, 01 đoạn vòi nhựa màu trắng, màu đen gắn xuyên qua nắp chai nhựa màu trắng, 01 chiếc máy khò, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ là công cụ sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[6] Đối với người đàn ông tên BNguyễn Văn M khai đã bán ma túy cho M, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[7] Đối với Trần Huy Hoàng A có hành vi sử dụng ma túy, Công an huyện N đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Huy Hoàng A về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức NNguyễn Văn M phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 11 tháng 6 năm 2024.
    3. Căn cứ vào điểm b, h khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 11 tháng 6 năm 2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Tịch thu, tiêu hủy một túi ni lông đã được niêm phong, bên trong có 01 đoạn vòi nhựa màu trắng, màu đen gắn xuyên qua nắp chai nhựa màu trắng, 01 chiếc máy khò, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ thu giữ của Nguyễn Văn M; 01 bì thư được niêm phong, bên trong có 01 chiếc cóng thủy tinh đã được giám định.

    (Vật chứng này hiện có tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và có tình trạng, đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội, buộc các bị cáo Nguyễn Đức NNguyễn Văn M mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp Nghệ An;
  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Đàn;
  • - Công an huyện Nam Đàn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Khắc Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Mạnh và đồng phạm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger