|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/DS-PT Ngày 27 tháng 5 năm 2024 V/v “Tranh chấp kiện đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Xuân Ninh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Bà Nguyễn Thị Minh Thu.
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Quang Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23, 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2024/TLPT-DS ngày 16/01/2024 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2023/DSST Ngày 10/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 78/2024/QĐPT-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1962 (có mặt).
Địa chỉ: Số G, phố N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị C: Luật sư Nguyễn Thanh B - Văn phòng L2 thuộc đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).
- Bị đơn: 1. Bà Phạm Phương L, sinh năm 1954 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, đường P, tổ B, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
2. Ông Trần Quốc B1, sinh năm 1955 (có mặt).
Địa chỉ: Số I, phố N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Phạm Thị Phương L1: Luật sư Nguyễn Mạnh Hvà Luật sư Nguyễn Đình D, Công ty L3-Đoàn Luật sư tỉnh B(có mặt).
Địa chỉ: Số G N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày: Do có quan hệ bạn bè, hàng xóm thân thiết nên ngày 10/9/2012 (âm lịch) vợ chồng bà cho vợ chồng ông Trần Quốc B1, bà Phạm Phương L vay tổng số tiền là 4.600.000.000 đồng. Cụ thể: Lần 1: Buổi trưa ngày 10/9/2012 (âm lịch) vay số tiền 1.600.000.000 đồng; Lần 2: Buổi tối ngày 10/9/2012 (âm lịch) vay số tiền 3.000.000.000 đồng. Mục đích vay phía bà L cho biết là để góp vốn thực hiện dự án xử lý rác thải ở T Khi vay chỉ có bà L là người nhận tiền và viết giấy biên nhận vay nợ, ghi rõ số tiền vay, ký dưới mục người vay nợ. Hai bên thỏa thuận miệng thời hạn thanh toán là 10 ngày; lãi suất vay là 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Đến hạn thanh toán vợ chồng ông B, bà L không thanh toán nợ gốc nên ngày 25/10/2012 bà L viết giấy thỏa thuận hẹn ngày 10/11/2012 thanh toán. Ngày 28/11/2012 ông B tiếp tục viết bản cam kết việc hẹn bà L thanh toán nợ trong vòng 05 ngày. Đến ngày 03/12/2012 thì ông B ký biên bản giao nhà đất tại số I đường N, phường S, thành phố B cho vợ chồng bà nhưng đến nay ông B bà L không thanh toán nợ gốc, cũng như không làm biên bản chuyển nhượng cho bà.
Bà xác nhận kể từ thời điểm vay đến nay, ông B bà L đã thanh toán cho bà tổng số tiền lãi là 158.500.000 đồng, cụ thể:
- Ngày 09/2/2013 (tức ngày 30 Tết năm 2012 âm lịch) trả 9.000.000 đồng.
- Ngày 10/4/2013 (tức ngày 01/3/2013 âm lịch) trả 15.000.000 đồng.
- Ngày 07/5/2013 (tức ngày 28/3/2013 âm lịch) trả 16.000.000 đồng.
- Ngày 05/6/2013 (tức ngày 27/4/2013 âm lịch) trả 15.000.000 đồng.
- Ngày 21/6/2013 (tức ngày 14/5/2013 âm lịch) trả 20.000.000 đồng.
- Ngày 16/7/2013 (tức ngày 09/6/2013 âm lịch) trả 15.000.000 đồng.
- Ngày 25/9/2013 (tức ngày 21/8/2013 âm lịch) trả 25.000.000 đồng.
- Ngày 16/12/2013 (tức ngày 14/11/2013 âm lịch) trả 9.000.000 đồng.
- Tháng 5/2014 trả 19.500.000 đồng.
- Ngày 12/6/2014 (tức ngày 15/5/2014 âm lịch) trả 15.000.000 đồng.
Năm 2017 bà và ông T ly hôn và đã thỏa thuận số tiền vợ chồng ông B, bà L nợ là tài sản riêng của bà cho ông B bà L vay, ông T không có bất cứ quyền lợi nào đối với số tiền này. Vậy, bà làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố B buộc vợ chồng ông B, bà L thanh toán số nợ gốc là 4.600.000.000 đồng và tiền lãi. Trong trường hợp ông B bà L không trả được bà số tiền trên thì yêu cầu ông B, bà L phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 162, tờ bản đồ số 16 tại số I, đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh cho bà để thanh toán nợ.
Bị đơn ông Trần Quốc B1 trình bày: Vợ chồng ông và vợ chồng ông T1 bà C có mối quan hệ hàng xóm. Năm 2010 bà L có vay của bà C 03 lần với tổng số tiền 350.000.000 đồng (lần 1 vay 160 triệu, lần 2 vay 120 triệu; Lần 3 vay 70 triệu). Đối với tiền lãi bà C tính tiền lãi bà L bằng công thức là tiền gốc x 5% x 30 ngày thành lãi của tháng. Đến tháng tiếp theo bà L cộng tiền nợ gốc và tiền lãi của tháng trước cộng với tiền lãi của tháng đó thành tiền nợ gốc của tháng liền kề tiếp theo. Cách tính lãi của bà C là vi phạm pháp luật, gấp 18 lần so với suất Ngân hàng quy định tại thời điểm đó (9%/năm) nên ông đã có đơn tố cáo bà C đã có hành vi cho vay nặng lãi quy định tại Điều 163 Bộ luật Hình sự gửi Viện KSND tỉnh B, ngày 07/10/2014 Viện KSND tỉnh B đã chuyển đơn tố cáo đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B, ngày 10/10/2014 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B có thông báo đã chuyển đơn đến Phòng CSĐT tội phạm và trật tự xã hội Công an tỉnh B. Ông đã có bản tường trình, nhiều lời khai và giao nộp chứng cứ gồm nhiều bút tích của bà C nhưng đến nay chưa nhận được Thông báo kết quả giải quyết đơn theo quy định. Ông xác nhận bà L có ký và viết vào 02 giấy biên nhận vay nợ ngày 10/9/2012 (âm lịch) với số tiền vay là 3.000.000.000 đồng và 1.600.000.000 đồng, tuy nhiên đây chỉ là tiền nợ gốc và lãi phát sinh từ số tiền 350.000.000 đồng đã vay ban đầu theo cách tính lãi như trên, thực tế bà C không đưa số tiền 4.600.000.000 đồng cho bà L do bà L chỉ là hộ kinh doanh nhỏ, không có nhu cầu về vốn lớn như vậy.
Thời điểm từ năm 2011 đến nay, ông bà đã trả được bà C tổng số tiền 753.000.000 đồng, cụ thể:
- Ngày 13/10/2011 âm lịch, đã trả 140.000.000 đồng tiền nợ gốc;
- Ngày 27/11/2011 âm lịch đến ngày 15/5/2014 âm lịch đã trả tổng cộng 15 lần với tổng số tiền 613.000.000 đồng, gồm: Tiền nợ gốc 210.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 403.000.000 đồng.
Ngoài ra, ông không đồng ý tham gia tố tụng với tư cách đồng bị đơn trong vụ kiện do ông không hề biết việc bà C cho bà L vay tiền như thế nào, việc bà L vay tiền không liên quan tới ông.
Đối với chữ ký và chữ viết tại Giấy thỏa thuận ngày 25/10/2012; Bản cam kết ngày 28/11/2012 và Biên bản bàn giao nhà đất ngày 03/12/2012, ông B xác nhận là do ông viết để đảm bảo do gia đình bà C nhiều lần gây áp lực. Thửa đất số 162, tờ bản đồ số 16, diện tích 78,1m² tại số I đường N, phường S, thành phố B hiện ông đã chuyển nhượng cho anh T2, chị T3 từ tháng 5/2012 để trả nợ.
Theo biên bản ghi lời khai tại Cơ quan điều tra bà Phạm Phương L trình bày: Bà xác nhận có viết và ký vào 02 giấy biên nhận vay nợ ngày 10/9/2012 (âm lịch) với tổng số tiền vay là 4.600.000.000 đồng nhưng là do bị bà C ép viết. Bà không được cầm số tiền 4.600.000.000 đồng từ bà C, số tiền bị ép viết giấy nhận nợ là tiền lãi từ số tiền vay gốc 350.000.000 đồng. Bà chỉ xác nhận vay bà C số tiền 350.000.000 đồng và đã thanh toán đủ cho bà C. Đến nay giữa hai bên không còn nợ nần gì nữa. Bà xác nhận có viết giấy thỏa thuận ngày 25/10/2012 (dương lịch) về việc hẹn ngày 10/11/2012 trả nợ, không trả được nợ thì có trách nhiệm chuyển nhượng ngôi nhà đất trên cho vợ chồng bà C ông T1 nhưng cũng là do bị bà C ép viết.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà C yêu cầu vợ chồng ông B, bà L thanh toán số nợ gốc là 4.600.000.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất 10%/năm kể từ ngày 10/9/2012 (âm lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm. Trường hợp ông B, bà L không thanh toán được thì buộc ông B, bà L phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 162, tờ bản đồ số 16 tại số I, đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh cho bà để thanh toán nợ. Việc vay mượn giữa bà và bà L đều không ghi thời hạn thanh toán và tiền lãi do từ những lần vay trước hai bên đều lập giấy vay mượn như vậy và bà L đều thanh toán. Đối với giấy biên nhận ông B giao nộp đều là của các khoản vay trước đó, không liên quan đến khoản vay 4.600.000.000 đồng nên bà không còn nhớ. Kể từ năm 2016 sau khi có kết luận của cơ quan Công an có một vài lần bà đòi vợ chồng ông B trả tiền, sau đó thì không đòi nữa do nghĩ vợ chồng ông B cũng không có tiền để trả. Tuy nhiên, sau này thấy ông B không những không trả tiền mà còn có thái độ thách thức nên bà đã làm đơn khởi kiện vợ chồng ông B, bà L ra Toà.
Bị đơn ông B có mặt không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do ông không vay cũng như không ký vào giấy biên nhận. Ông cũng không biết hay được bà L cho biết việc bà L vay tiền bà C nên ông không có nghĩa vụ thanh toán và không đồng ý tham gia vụ án với tư cách bị đơn. Việc ông nhận trách nhiệm thanh toán và ký giấy cam kết chuyển nhượng nhà đất là do ông là chồng của bà L. Hiện bà L không có mặt tại phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh 07 năm nay, trước thời điểm bà C khởi kiện nên đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án. Giữa ông bà không có liên hệ gì nên mọi giấy báo của Tòa án ông không thông báo cho bà L được biết. Ông có đơn tố cáo bà C về việc cho vay lãi nặng và đã biết bản kết luận của cơ quan điều tra kết luận không cấu thành tội phạm nhưng việc bà C cho vay với lãi suất gấp 18 lần lãi suất Ngân hàng là hành vi vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính lãi vi phạm pháp luật. Số tiền bà L vay bà C chỉ là 350.000.000 đồng. Sau đó bà C lấy tiền lãi của tháng trước cộng tiền lãi của tháng đó thành tiền lãi của tháng liền kề kế tiếp theo. Ông B đề nghị Toà án áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện của bà C.
Từ những nội dung trên Tòa án nhân dân thành phố B đã căn cứ vào các Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 40; Điều 160; Điều 161; Điều 184; điểm e khoản 1 Điều 217; Điều 218; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 290, 298, 427, 471, 474, 476, 478 Bộ luật dân sự 2005;
Căn cứ vào Điều 688 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012;
Căn cứ Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Trần Quốc B1, bà Phạm Phương L có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị C số tiền 4.600.000.000 đồng.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi. Nguyên đơn không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại.
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn chuyển nhượng quyền sử dụng đất vài tài sản gắn liền với thửa đất số 162, tờ bản đồ số 16 tại số I đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 24 tháng 11 năm 2023, bị đơn ông Trần Quốc B1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 27 tháng 11 năm 2023, bị đơn bà Phạm Phương L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị đơn và người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn trình bày luận cứ về việc tính lãi của số tiền vay gốc 350.000.000đ từ ngày 13/11/2011 (ÂL) đến ngày 10/9/2012 (ÂL) cộng lãi vào gốc thành 4.600.000.000đ. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông B và bà L, sửa quyết định của bản án sơ thẩm;
Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 148 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016 của UBTV Quốc hội: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông B, bà L; sửa bản án sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 10/11/2023 của TAND Thành phố B theo hướng buộc ông B, bà L phải có trách nhiệm trả cho bà C số tiền 32.320.000đ; ông B, bà L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông B, bà L trong thời hạn luật định nên được Tòa án xem xét.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thời hiệu khởi kiện: Theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn bà Nguyễn Thị C yêu cầu bị đơn trả lại số tiền gốc là 4.600.000.000 đồng và tiền lãi nên Tòa án nhân dân thành phố B thụ lý vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông B đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu. Theo Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu bảo về quyền sở hữu là tiền nợ gốc, còn thời hiệu khởi kiện yêu cầu trả lãi đã hết. Do đó, cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Kiện đòi tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định.
[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại đơn khởi kiện, bà C cung cấp địa chỉ của bị đơn ông B, bà L có địa chỉ tại phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Phía bị đơn bà Phạm Phương L đã thay đổi nơi cư trú, hiện không cư trú tại thành phố B, tỉnh Bắc Ninh nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về việc thay đổi nơi cư trú và nơi cư trú mới. Tại thời điểm khởi kiện ông B vẫn cư trú tại phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình giải quyết vụ án ông B cũng không cung cấp địa chỉ nơi cư trú mới của bà L. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố B thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
[4] Về tư cách tham gia tố tụng: Tòa án xác định tư cách tố tụng của đương sự trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị C khởi kiện bà Phạm Phương L và ông Trần Quốc B1. Mặt khác, ngày 28/11/2012 ông B viết bản cam kết hẹn bà L thanh toán nợ trong vòng 05 ngày; đến ngày 03/12/2012 thì ông B ký biên bản giao nhà đất tại số I đường N, phường S, thành phố B cho vợ chồng bà C và ông B cũng là người trực tiếp nhiều lần thanh toán tiền cho bà C. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định cả bà L, ông B là bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.
[5] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn bà C khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông B, bà L thanh toán số nợ gốc theo 02 giấy biên nhận vay nợ đề ngày 10/9/2012 (ÂL) là 4.600.000.000 đồng và tiền lãi. Trong trường hợp ông B bà L không trả được bà số tiền trên thì yêu cầu ông B, bà L phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 162, tờ bản đồ số 16 tại số I, đường N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh cho bà để thanh toán nợ. Căn cứ bà C đưa ra là: 02 giấy vay tiền đề ngày 10/9/2012 (âm lịch); Giấy thỏa thuận ngày 25/10/2012; Giấy cam kết ngày 28/11/2012; Biên bản bàn giao nhà đất ngày 03/12/2012.
[6] Tại cơ quan điều tra bà L xác nhận đã viết và ký vào 02 giấy biên nhận vay nợ cùng ngày 10/9/2012 (âm lịch) tức ngày 24/10/2012 dương lịch; Giấy thỏa thuận ngày 25/10/2012 (dương lịch). Ông B, bà L cho rằng bị nguyên đơn bà C ép viết 02 giấy biên nhận nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận. Xét thấy, quan hệ vay nợ giữa bà Nguyễn Thị C và bà Phạm Phương L là giao dịch dân sự tự nguyện, không trái với quy định pháp luật, được thể hiện dưới hình thức hợp đồng vay tiền, có kỳ hạn, có lãi. Mặc dù trong hợp đồng các bên không ghi lãi suất thỏa thuận, kỳ hạn thanh toán nhưng hai bên đều xác nhận có thỏa thuận lãi suất, kỳ hạn nhưng không thống nhất về mức lãi suất. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà C là có căn cứ, cần được xem xét.
[7] Đối với số tiền nợ gốc: Bà C yêu cầu ông Trần Quốc B1, bà Phạm Phương L cùng có trách nhiệm thanh toán số nợ gốc là 4.600.000.000 đồng theo 02 giấy vay nợ cùng ngày 10/9/2012 (âm lịch) vay số tiền 1.600.000.000 đồng và số tiền 3.000.000.000 đồng. Bà L, ông B cho rằng bà L chỉ vay số nợ gốc là 350.000.000 đồng và đã thanh toán hết. Số tiền 4.600.000.000 đồng đã được bà C cộng dồn từ khoản vay 350.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh nhưng ông B bà L không xuất trình được căn cứ. Ông B xuất trình một số giấy biên nhận vay nợ nhưng toàn bộ giấy biên nhận vay nợ đều từ trước 10/9/2012 (âm lịch) và một số giấy tờ ghi chép thanh toán nhưng những con số, chữ viết không thể hiện nội dung số tiền nhận để thanh toán cụ thể khoản vay nào, nội dung cũng không rõ ràng, không ngày tháng năm. Mặc dù, tại cấp phúc thẩm bà C thừa nhận có viết những nội dung con số trong tài liệu ông B cung cấp nhưng những nội dung này không liên quan tới khoản vay mà bà C đang yêu cầu ông B, bà L trả. Từ việc xác định số tiền gốc ngày 13/10/2011 (ÂL) và việc tính lãi được nêu trong luận cứ bảo vệ quyền lợi của bị đơn và người bảo vệ quyền lợi cho bị đơn hoàn toàn không phù hợp với việc thỏa thuận của các bên hoặc tính lãi theo quy định của pháp luật. Việc chứng minh của bị đơn để đưa ra căn cứ từ số tiền gốc 350.000.000đ tính lãi thành 4.600.000.000đ trong 11 tháng (từ 13/11/2011 đến 10/9/2012) hoàn toàn không có cơ sở chấp nhận. Mặt khác, các đương sự cũng thừa nhận giữa bà C và bà L có phát sinh quan hệ vay nợ, việc bà L ký nhận tổng số nợ là 4.600.000.000 đồng là phù hợp với các tình tiết, chứng cứ khách quan của vụ án.
[8] Trên thực tế, ông B, bà L chỉ thanh toán được tiền lãi, chưa thanh toán được nợ gốc như đã cam kết. Bà L tự viết và ký giấy biên nhận nợ cuối cùng vào ngày 10/9/2012 (ÂL) nên phải có trách nhiệm đối với khoản nợ 4.600.000.000 đồng, không có căn cứ để chấp nhận việc ông B, bà L cho rằng số nợ chỉ là 350.000.000 đồng. Vì vậy, yêu cầu của bà C về việc buộc bà L, ông B phải thanh toán phải thanh toán số nợ gốc là 4.600.000.000 đồng theo hai giấy biên nhận nợ ngày 10/9/2012 (âm lịch) là có căn cứ, kháng cáo của ông B, bà L là không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[9] Đối với nghĩa vụ trả nợ: Theo đơn khởi kiện thì bà C yêu cầu vợ chồng ông B, bà L cùng phải có nghĩa vụ trả nợ. Hội đồng xét xử nhận thấy, số tiền bà L vay bà C theo giấy nhận nợ ngày 10/9/2012 (âm lịch), giấy thỏa thuận ngày 25/10/2012 được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông B và bà L. Hai giấy biên nhận nợ ngày 10/9/2012 (âm lịch) không có chữ ký của ông B, nhưng sau đó ông B đã biết về việc vay nợ giữa bà L (vợ ông) với bà C, ông B đã thanh toán một phần tiền lãi và cùng cam kết bàn giao nhà để thanh toán cho bà C. Điều này được thể hiện rõ trong giấy thỏa thuận ngày 25/10/2012, bản cam kết ngày 18/11/2012. Và trong biên bản bàn giao nhà đất ngày 03/12/2012 ông B cũng xác nhận vợ chồng ông B, bà L có vay của vợ chồng ông T1, bà C để làm ăn buôn bán. Do vậy nghĩa vụ thanh toán là do bà L và ông B phải thực hiện đối với bà C.
[10] Ông B cho rằng chữ ký trong biên bản bàn giao nhà đất không phải của ông và đề nghị trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 2038/KL-KTHS ngày 04/10/2023 kết luận “Chữ ký, chữ viết đứng tên Trần Quốc B1 trên biên bản bàn giao nhà đất ngày 03/12/2012 so với chữ ký, chữ viết của Trần Quốc B1 trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra”. Ông B kháng cáo cho rằng ông không biết, không tham gia vào giao dịch vay mượn giữa bà C và bà L nhưng ông B vẫn thừa nhận trách nhiệm và nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng ông đối với bà C. Như vậy, ông B biết về số nợ và đã cùng bà L cam kết bàn giao nhà đất để thanh toán nợ, căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình bản án sơ thẩm xác định ông B, bà L cùng phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà C đúng quy định. Ông B kháng cáo không đồng ý việc trả nợ cùng bà L nhưng với những phân tích nêu trên xác định quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ cần được giữ nguyên.
[11] Về tiền lãi: Nguyên đơn cho rằng hai bên có thỏa thuận lãi suất miệng là 2.000đồng/1.000.000đồng/ngày. Phía bị đơn cho rằng tiền ký giấy biên nhận vay là tiền lãi của các khoản vay trước đó nên không có thỏa thuận lãi suất nhưng không đưa được căn cứ tài liệu, chứng cứ chứng minh. Nay bà C chỉ yêu cầu ông B, bà L phải thanh toán lãi theo quy định pháp luật. Xét thấy, sau khi viết giấy vay nợ ngày 10/9/2012 bà L, ông B viết giấy thoả thuận, bản cam kết, biên bản bàn giao nhà để hẹn ngày trả nợ cho bà C nhưng không trả. Đến thời hạn trả nợ bà L, ông B không trả là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do bà L, ông B không trả tiền nên bà C có làm đơn tố cáo ra cơ quan Công an vì cho rằng bà L, ông B có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; ông B có đơn tố cáo bà C vì cho rằng bà C cho vay lãi nặng. Đến tháng 8/2016 Cơ quan Công an có Quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Tại phiên toà, bà C xác nhận sau khi cơ quan Công an có Quyết định không khởi tố vụ án, bà C có một vài lần đòi tiền bà L, ông B nhưng sau đó không đòi nữa vì nghĩ rằng vợ chồng bà L không có tiền để trả. Đến năm 2021 thì bà C mới làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự. Căn cứ Điều 427 Bộ luật dân sự 2005 thì thời hiệu khởi kiện đối với số tiền lãi đã hết. Do vậy, bả án sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán tiền lãi là phù hợp với quy định.
[12] Về yêu cầu của nguyên đơn đề nghị ông B, bà L phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 162, tờ bản đồ số 16, địa chỉ tại số I, N, phường S, thành phố B theo Bản cam kết ngày 28/11/2012 và biên bản bàn giao Nhà đất ngày 03/12/2012 cho bà C trong trường hợp ông B, bà L không thanh toán được nợ. Hội đồng xét xử xét thấy bản cam kết và biên bản bàn giao nhà đất giữa ông B và bà C không phải là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hơn nữa thửa đất số 162, tờ bản đồ số 16, địa chỉ tại số I, N, phường S, thành phố B đã được ông B bà L chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T4 và bà B2 Nguyễn Thị T5 trước thời điểm bà L viết giấy vay nợ và ông B viết các bản cam kết trên. Ngày 14/5/2012 thửa đất trên đã được đăng ký biến động sang tên ông T4, bà T6 Do vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
[13] Về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu được chấp nhận, nhưng ông B và bà L là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí do đó cần miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông B và bà L. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu 5.000.000 đồng chi phí giám định chữ ký, chữ viết. Xác nhận bị đơn đã nộp đủ.
[14] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông B và bà L không được chấp nhận nên ông B, bà L mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông B và bà L là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí do đó cần miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông B và bà L.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quyết định:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Quốc B1 và bà Phạm Phương L, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm số 05/2023/DSST ngày 10 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh: Buộc ông Trần Quốc B1, bà Phạm Phương L có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị C số tiền 4.600.000.000 đồng.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trần Quốc B1 và bà Phạm Phương L.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Xuân Ninh |
Bản án số 65/2024/DS-PT ngày 27/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 65/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C Bị đơn: Bà Phạm Phương L; Ông Trần Quốc B
