Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 5 - 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Minh và bà Trần Thị Yến Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Quỳnh H – sinh năm: 1985.

Bị đơn: Anh Nguyễn Phú V – sinh năm: 1981.

Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(chị H và anh V đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Đặng Quỳnh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Phú V tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2005 và được Ủy ban nhân dân xã P cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/11/2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung cùng nhau tại địa chỉ: Tổ A, ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh V thường xuyên nhậu nhẹt, không quan tâm đến gia đình. Chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh V vẫn không thay đổi. Do đó trong cuộc sống chung không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã nhau, tình cảm vợ chồng dần phai nhạt. Từ năm 2022 đến nay, chị và anh V sống ly thân nhau. Trong quá trình ly thân, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc nhau và bàn bạc việc đoàn tụ. Nay tình cảm không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Phú V.

Về con chung: Chị và anh V có 03 con chung:

  • - Nguyễn Đặng Phương U – sinh ngày: 30/11/2006.
  • - Nguyễn Đặng Phương K – sinh ngày: 13/7/2010.
  • - Nguyễn Đặng Phương K1 – sinh ngày: 01/01/2015.

Từ khi chị và anh V ly thân nhau đến nay, cả 03 con chung đều do anh V trực tiếp nuôi dưỡng.

Khi ly hôn, chị đồng ý giao cả 03 con chung cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tự nguyện cấp dưỡng nuôi cả 03 con mỗi tháng 3.000.000đ.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Nguyễn Phú V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đặng Quỳnh H tự nguyện chung sống vào năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị H thường xuyên đi chơi qua đêm, không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng có cãi vã nhau. Từ năm 2022 đến nay, anh và chị H đã không còn sống chung với nhau, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H yêu cầu ly hôn thì anh yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh và chị H có 03 con chung là:

  • - Nguyễn Đặng Phương U – sinh ngày: 30/11/2006.
  • - Nguyễn Đặng Phương K – sinh ngày: 13/7/2010.
  • - Nguyễn Đặng Phương K1 – sinh ngày: 01/01/2015.

Khi ly hôn, anh yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung và đồng ý với việc chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi cả 03 con mỗi tháng 3.000.000₫.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập thì Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xét vợ chồng chị H và anh V đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị Đặng Quỳnh H được ly hôn với anh Nguyễn Phú V.

+ Về con chung: Đề nghị giao cả 03 con chung là Nguyễn Đặng Phương U – sinh ngày: 30/11/2006, Nguyễn Đặng Phương K – sinh ngày: 13/7/2010, Nguyễn Đặng Phương K1 – sinh ngày: 01/01/2015 cho anh Nguyễn Phú V trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị H về việc cấp dưỡng nuôi cả 03 con chung mỗi tháng 3.000.000đ.

+ Về tài sản chung: Chị H và anh V không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về nợ chung: Chị H và anh V kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về án phí: Đề nghị buộc chị Đặng Quỳnh H phải chịu 300.000đ án phí DSST về ly hôn và 300.000đ án phí DSST về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Đặng Quỳnh H khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung đối với bị đơn anh Nguyễn Phú V. Anh V đang cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

[1.2]. Chị Đặng Quỳnh H và anh Nguyễn Phú V là các đương sự trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng chị H và anh V đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung: Chị H và anh V kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 21/11/2005. Nay chị H yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh V nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 11, 85, 89, 91, 92, 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để giải quyết.

[3]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh V sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 21/11/2005. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị H yêu cầu ly hôn vì do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, anh V không lo làm ăn, chăm sóc cho gia đình. Anh V thừa nhận mâu thuẫn do chị H không quan tâm đến gia đình và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Qua ý kiến thừa nhận của các đương sự thể hiện trong cuộc sống chung của chị H và anh V có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau. Xét thấy hôn nhân của chị H và anh V trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Quỳnh H là cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Phú V.

[3.2]. Về con chung: Chị H và anh V có 03 con chung là:

  • - Nguyễn Đặng Phương U – sinh ngày: 30/11/2006.
  • - Nguyễn Đặng Phương K – sinh ngày: 13/7/2010.
  • - Nguyễn Đặng Phương K1 – sinh ngày: 01/01/2015.

Chị H đồng ý giao cả 03 con chung cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung.

Xét thấy, bản thân anh V đều có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Từ khi chị H và anh V sống ly thân đến nay, các con chung do anh V trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, để tránh xáo trộn cuộc sống của các con chung và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung nên Hội đồng xét xử quyết định giao cả 03 con chung cho anh V trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H tự nguyện cấp dưỡng nuôi cả 03 con chung mỗi tháng 3.000.000đ. Anh V đồng ý với ý kiến của chị H về mức cấp dưỡng nuôi con. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc chị H cấp dưỡng nuôi cả 03 con chung mỗi tháng 3.000.000đ là phù hợp.

[3.3]. Về tài sản chung: Chị H và anh V không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4]. Về nợ chung: Chị H và anh V kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Đặng Quỳnh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[5]. Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Các Điều 11, 85, 89, 91, 92, 94 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
  • - Các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Quỳnh H. Cho chị Đặng Quỳnh H được ly hôn anh Nguyễn Phú V.
  2. Về con chung: Chị H và anh V có 03 con chung là:
    • - Nguyễn Đặng Phương U – sinh ngày: 30/11/2006.
    • - Nguyễn Đặng Phương K – sinh ngày: 13/7/2010.
    • - Nguyễn Đặng Phương K1 – sinh ngày: 01/01/2015.

    Giao cả 03 con chung cho anh Nguyễn Phú V trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Đặng Quỳnh H phải cấp dưỡng nuôi cả 03 con chung mỗi tháng 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Thời điểm cấp dưỡng tính từ tháng 6/2024. Chị H có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Về tài sản chung: Chị H và anh V không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Chị H và anh V kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Đặng Quỳnh H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0012844 ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí. Chị Đặng Quỳnh H phải nộp thêm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
  6. Quyền kháng cáo: Chị H và anh V có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - UBND xã Phú Xuân: Để ghi vào
  • sổ hộ tịch (Giấy CNKH số 117, cấp
  • ngày 21/11/2005);
  • - Lưu HS - LT.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger