TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày: 26-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mùa A Chư.
- Bà Hoàng Thị Kiều.
- Thư ký phiên toà: Bà Cầm Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 06/8/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 03/2024/HSST-QĐ ngày 21/8/2024, đối với các bị cáo:
- Lò Văn N, tên gọi khác: Không, sinh năm 1976; số định danh cá nhân: 014076001560; nơi cư trú: Bản T, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo dục phổ thông: 3/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Lò Văn M và con bà: Lò Thị K; vợ: Lò Thị L, có 05 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2019; tiền sự: Không;
Nhân thân:
- + Tại bản án số 14 ngày 27/4/2006, bị Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- + Tại bản án số 23 ngày 21/9/2010, bị Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 28/3/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Lường Văn T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1990; số định danh cá nhân: 014090002472; nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo dục phổ thông: 12/12; dân tộc: Lào; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Lường Văn Ú và con bà: Vì Thị P; sống chung như vợ chồng với Lò Thị T1; con, có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sư: Không; bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 28/3/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Nhân thân:
- + Tại bản án số 09 ngày 17/01/2017, bị Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- + Tại bản án số 11 ngày 25/4/2019, bị Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp xử phạt 26 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma tuý.
- Người Bào chữa cho bị cáo Lò Văn N: Ông Nguyễn Bá L1 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.
- Người Bào chữa cho bị cáo Lường Văn T: Ông Đặng Văn Q– Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lường Văn Ú, sinh năm 1962, (bố bị cáo Lường Văn T). Nơi cư trú: Bản Mường Và, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 40 phút ngày 28/3/2024, tổ công tác Công an xã M, huyện S làm nhiệm vụ tại bản T, xã M phát hiện bắt quả tang Lường Văn T, sinh năm 1990 trú tại bản Mường Và, xã M, huyện S có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu hồng, bên trong có 08 viên nén màu hồng trong miệng Lường Văn T nghi là ma tuý loại Methamphetamine.
Lường Văn T khai số ma tuý bị thu giữ là mua của Lò Văn N, sinh năm 1976 ở bản T, xã M, huyện S. Cùng ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn N.
Tiến hành khám xét khẩn cấp theo Lệnh khám xét khẩn cấp số 81/LKX-HSKTMT ngày 29/3/2024 tại nhà của Lò Văn N ở bản T, xã M, huyện S thu giữ trong tủ gỗ tại phòng ngủ của Lò Văn N 01 cục nhựa màu đen nghi là Thuốc phiện.
Ngày 28/3/2024, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành mở niêm phong cân tịnh, lấy mẫu giám định vật chứng nghi là ma túy thu của Lường Văn T. Kết quả 08 viên nén màu hồng có khối lượng 0,83gam. Lấy 04 viên có khối lượng 0,43gam làm mẫu giám định, ký hiệu T, còn lại 02 viên có khối lượng 0,40gam lưu kho vật chứng.
Ngày 30/3/2024, mở niêm phong cân tịnh, lấy mẫu giám định vật chứng nghi là thuốc phiện thu của Lò Văn N có khối lượng 1,38gam. Lấy 0,92 gam làm mẫu giám định, ký hiệu N, còn lại 0,46 gam lưu kho vật chứng.
Kết luận giám định số 807/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu N là ma tuý; loại Thuốc phiện (nhựa Thuốc phiện), khối lượng của mẫu giám định là 0,92gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 1,38gam, loại Thuốc phiện (Nhựa thuốc phiện)”.
Kết luận giám định số 809/KL-KTHS ngày 01/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma tuý, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu giám định là 0,43gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,83gam, loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Vào ngày 25/3/2024, Lò Văn N đi bộ một mình đến nhà một người tên là T2 ở bản S, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La hỏi mua được 15 viên ma tuý tổng hợp với giá 500.000đồng. Mua được ma tuý, N đem về nhà lấy ra 04 viên sử dụng, số còn lại cất giấu trong tủ gỗ ở buồng ngủ không cho ai biết. Sáng ngày 28/3/2024 Lò Văn N đến Trạm y tế xã M để uống thuốc Methadone cho người đăng ký cai nghiện ma tuý tại cộng đồng thì gặp Lường Văn T cũng là người nghiện ma tuý đi uống thuốc Methadone. N nói với T mình mới mua được ma tuý đang cất giấu ở nhà, ý N nói với T nếu muốn sử dụng ma tuý thì đến nhà N để mua.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày 28/3/2024, T đi bộ từ nhà ở bản M, xã M vác theo 03 bộ khuôn bằng nhựa dùng để đúc bê tông lan can, hàng rào đến nhà N thì gặp N ở nhà một mình. T hỏi N đổi 03 bộ khuôn lấy ma tuý, N đồng ý đưa cho T 08 viên ma tuý tổng hợp được gói trong mảnh nilon màu hồng. T cầm gói ma tuý vừa trao đổi được cho vào miệng để cất giấu rồi đi về nhà, khi về đến trường mầm non B thì gặp tổ công tác Công an xã M kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu toàn bộ vật chứng nêu trên. Đối với Lò Văn N, sau khi đổi ma tuý cho T còn lại 03 viên ma tuý, N lấy ra sử dụng hết bằng cách cho vào tẩu tự chế đốt hít hết.
Ngày 29/3/2024, chị Lò Thị L, sinh năm 1983 trú tại bản Tông Hùm, xã M, huyện S là vợ của Lò Văn N đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S 03 bộ khuôn đúc bê tông, gồm 06 tấm nhựa có chiều dài 132cm, chiều rộng 16cm và 62 con vít do Lường Văn T dùng để đổi ma tuý cho Lò Văn N.
Cáo trạng số: 37/CT-VKSSC ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Lò Văn N về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251 và điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Lường Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- - Các bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
- - Người có quyền lợi, nghĩa liên quan ông Lường Văn Ú trình bày: Việc bị cáo Lường Văn T dùng các khuôn đúc bê tông đi đổi ma tuý với bị cáo Lò Văn N thì ông không biết. Đối với 03 bộ khuôn đúc bê tông là tài sản chung của gia đình ông, ông đề nghị được xin lại để sử dụng.
- - Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo.
- + Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lò Văn N từ 36 đến 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; từ 16 tháng đến 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt theo Điều 55 Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
- + Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lường Văn T từ 30 đến 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- + Các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền); các bị cáo đều thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Các bị cáo có quyền kháng cáo.
- - Người Bào chữa cho các bị cáo trình bày: Các bị cáo đều dân tộc thiểu số, sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Sau khi phạm tội đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và miễn án phí cho các bị cáo.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, nhất trí với quan điểm của người bào chữa. Sau khi được nói lời sau cùng các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo; người bào chữa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định tội danh:
- - Hồi 12 giờ 40 phút ngày 28/3/2024, tổ công tác Công an xã M, huyện S làm nhiệm vụ tại bản T, xã M phát hiện bắt quả tang Lường Văn T có hành Tàng trữ có 08 viên nén màu hồng có khối lượng 0,83 gam, theo kết luận giám định là chất ma tuý, thuộc loại Methamphetamine, mục đích Tàng trữ để sử dụng cá nhân. Lường Văn T khai nhận số ma tuý bị thu giữ là mua của Lò Văn N ở bản T, xã M. Cùng ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn N và tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của Lò Văn N, thu giữ được trong tủ gỗ tại phòng ngủ của Lò Văn N 01 cục nhựa màu đen có khối lượng 1,38 gam, theo kết luận giám định là chất ma tuý, thuộc loại thuốc phiện (nhựa thuốc phiện).
- - Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến; lời khai nhận các bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn N đã phạm tội: "Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; bị cáo Lường Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với các bị cáo về các tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác tại địa phương.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân xấu, đều có thời gian sử dụng ma tuý nhiều năm.
- - Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều có 01 tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo T có thêm 01 tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm) quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào khối lượng ma tuý các bị cáo tàng trữ; mua bán và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; xác định các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Mua bán; Tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vấn cố tình thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng, nghiêm khắc và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và để phòng ngừa chung, đồng thời có thời gian cho các bị cáo cai bỏ ma tuý, có ý thức chấp hành pháp luật, sớm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án: Lò Văn N khai nhận số ma túy bán cho Lò Văn T3 là do N mua của một người đàn ông tên là T2 ở bản S, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La vào ngày 25/3/2024. Quá trình điều tra, đã tiến hành cho Lò Văn N nhận dạng những người có tên là T2 ở bản S, xã M, huyện S nhưng Lò Văn N không xác định được người bán ma túy cho N; đối với số thuốc phiện khám xét được tại nhà N, N khai mua được của người đàn ông không quen biết vào năm 2023 để sử dụng dần nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra, mở rộng vụ án đối với số ma tuý nêu trên là có căn cứ, cần chấp nhận.
[6] Vật chứng của vụ án còn lại:
- - 03 bộ khuôn đúc bê tông gồm 06 tấm nhựa có chiều dài 132cm, chiều rộng 16cm và 62 con vít là tài sản chung của gia đình bị cáo Lò Văn T3, do đó cần xem xét trả lại.
- - Đối với 0,40 gam ma tuý, loại Methamphetamine và 0,46 gam Thuốc phiện cùng các đồ vật liên quan là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu huỷ.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Lò Văn N có tài sản (thể hiện tại biên bản xác minh do công an huyện S lập ngày 29/4/2024). Do vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lò Văn N; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Lường Văn T.
[8] Về án phí: Các bị cáo đều là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đều được miễn án phí.
[9] Về quan điểm của Kiểm sát viên và những người Bào chữa như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với các bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
- - Căn cứ khoản 1 và khoản 5 Điều 251 và điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự.
- + Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội: Mua bán; Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- + Xử phạt Lò Văn N 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 04 năm 06 tháng tù (bốn năm sáu tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/3/2024.
- + Phạt bổ sung Lò Văn N: 7.000.000 đồng (bảy triệu).
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- + Tuyên bố bị cáo Lường Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- + Xử phạt: Lường Văn T 02 năm 06 tháng tù (hai năm sáu tháng). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/3/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng đựng vật chứng ban đầu; 01 túi nilon màu trắng chứa 04 viên nén hình trụ tròn màu hồng có khối lượng 0,40 gam, ký hiệu T; toàn bộ được đựng trong 01 (một) phong bì thư của Công an huyện S, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong kín.
- + 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng đựng vật chứng ban đầu; 01 túi nilon màu trắng chứa 0,46 gam, ký hiệu N1; toàn bộ được đựng trong 01 (một) phong bì thư của Công an huyện S, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong kín.
- - Trả lại cho ông Lường Văn Ú: 03 (ba) khuôn nhựa đúc bê tông (con tiện) và 62 (sáu mươi hai) con vít bằng nhựa màu đen.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 37 ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/7/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).
- - Tịch thu tiêu huỷ:
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 26/9/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự Sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn N + ĐP phạm tội Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
