Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 26-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Ngọc Thanh.

2. Ông Lê Việt Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Công M, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 03/9/1992, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm 1965; Con bà: Ngô Thị K, sinh năm 1972; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 12/8/2021 bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác bằng hình thức phạt tiền.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/3/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thanh S, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 29/5/1996, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1962; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không.

Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2020/HS-ST ngày 29/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2022, chưa được xóa án tích.

Nhân thân:

  • - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 07/6/2024, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 10 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/10/2023.
  • - Ngày 29/01/2019 bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác bằng hình thức phạt tiền.

Bị cáo đang chấp hành hình phạt tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 07/6/2024 và Quyết định thi hành án phạt tù số 379/2024/QĐ-CA ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn H1, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 13/7/1995, tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn D, sinh năm 1961; Con bà: Trịnh Thị L1, sinh năm 1974; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không.

Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2020/HS-ST ngày 31/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/01/2022, chưa được xóa án tích.

Nhân thân:

  • - Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2023/HS-ST ngày 25/8/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (Bản án xét xử sau thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2024.
  • - Ngày 05/11/2016 bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác bằng hình thức phạt tiền.
  • - Ngày 10/12/2018 bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác bằng hình thức phạt tiền.
  • - Ngày 18/02/2020 bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau bằng hình thức phạt tiền.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/5/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Anh Vũ Văn N, sinh năm: 2000, nơi cư trú: Tổ dân phố I, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

2. Anh Vũ Văn B, sinh năm: 2004, nơi cư trú: Tổ dân phố I, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Ngọc D1, sinh năm: 1990, nơi cư trú: Thôn N, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Những người làm chứng:

  1. Ông Vũ Văn B1, sinh năm: 1975, nơi cư trú: Tổ dân phố I, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Bà Lê Thị N1, sinh năm: 1974, nơi cư trú: Tổ dân phố I, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  3. Ông Vũ Văn M1, sinh năm: 1960, Tổ dân phố I, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  4. Anh Vũ Văn Đ, sinh năm: 2008, nơi cư trú: Tổ dân phố I, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  5. Anh Lê Văn H2, sinh năm: 1998, nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  6. Anh Lê Hữu L2, sinh năm: 1996, nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  7. Anh Lê Văn L3, sinh năm: 2004, nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  8. Anh Hoàng Văn L4, sinh năm: 1997, nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  9. Anh Lê Huy T, sinh năm: 1998, nơi cư trú: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  10. 10. Anh Nguyễn Thiện H3, sinh năm: 2002, nơi cư trú: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 02/2023, anh Vũ Văn B, sinh năm 2004, trú tại tổ dân phố I, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa có vay 15 triệu đồng của anh Lê Văn H2, sinh năm 1998, trú tại tổ dân phố A, thị trấn Q. Anh Lê Văn H2 đã nhiều lần đòi anh B trả nợ nhưng anh B chưa trả. Anh Lê Văn H2 nói với anh Lê Hữu L2, sinh năm 1996, trú tại tổ dân phố D, thị trấn Q (là người ở trọ cùng anh H2 trong tỉnh Bình Dương) về việc này và nhờ người tìm anh B cho anh Lê Văn H2 nói chuyện.

Khoảng 22 giờ ngày 29/5/2023, anh Lê Hữu L2 điện thoại cho Nguyễn Công M bảo M tìm anh B đòi nợ tiền giúp cho anh Lê Văn H2. Anh Lê Hữu L2 nói với M lên quán internet ở thị trấn Q tìm anh Lê Văn L3, sinh năm 2004, ở tổ dân phố D, thị trấn Q (là bạn của anh B), để anh Lê Văn L3 dẫn đi tìm anh B. Lúc này M rủ anh Nguyễn Thiện H3, sinh năm 2002 và anh Lê Huy T, sinh năm 1998 cùng trú tại thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa đi cùng. M gọi cho anh Hoàng Văn L4, sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã Y (lái taxi) chở M. Khi lên thị trấn Q, M vào quán internet hỏi anh Lê Văn L3 nơi ở của anh B và anh Lê Văn L3 đồng ý dẫn M đi tìm anh B. Trên xe taxi, anh Lê Văn L3 nhắn tin cho anh B để hỏi thông tin nơi anh B ở thì được anh B cho biết đang ở nhà nghỉ T2 ở xã Y. M, anh T và anh Nguyễn Thiện H3 đến nhà nghỉ T2 gặp anh B và đưa anh B lên xe taxi. Trên xe M tát anh B 2 - 3 cái đồng thời yêu cầu anh B trả tiền. Anh Tú cũng tát B một cái thì anh L4 nói không được đánh trên xe. Lúc này M điện thoại cho anh Lê Hữu L2 nói cho anh Lê Hữu L2 biết đã tìm thấy anh B. Anh Lê Hữu L2 nói chuyện với anh B và hỏi anh B có định trả tiền cho anh Lê Văn H2 hay không thì anh B xin khất mấy hôm nữa. M nói với anh Lê Hữu L2 để M lấy tiền cho thì được anh Lê Hữu L2 đồng ý. Khi đến cầu K, xã Y, huyện Y, M, anh T, anh Nguyễn Thiện H3 và anh B xuống xe, còn anh Lê Văn L3 và anh L4 vẫn ngồi trên xe. Tại cầu K, M nói với anh B “một là trả tiền hai là nhảy xuống sông hết nợ” và dùng tay tát anh B 1 - 2 cái. Anh B không phản kháng gì. Lúc sau, M nghe điện thoại của một người bạn tên D2 (trong nhóm bạn của M đi sinh nhật Nguyễn Thanh S), Do hỏi M đang ở đâu thì M bảo “vừa bắt được thằng ni đang lấy tiền đã”. Sau đó, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Văn H1 và một số người bạn đến cầu K. Tại đây, M nói cho S và Nguyễn Văn H1 biết việc anh B nợ tiền nhưng không trả nên S, Nguyễn Văn H1 cùng M tiếp tục yêu cầu anh B trả tiền. Do anh B tiếp tục khất nợ nên M yêu cầu đưa anh B về nhà xin tiền bố mẹ để trả nợ.

Lúc này, M nói với S, Nguyễn Văn H1 và anh Lê Văn L3 lên xe taxi để anh L4 chở lên nhà anh B, các thanh niên còn lại đi về. Đến nhà anh B, M, S, Nguyễn Văn H1 và anh B xuống xe còn anh L4 và anh Lê Văn L3 vẫn ngồi trên xe cách cổng nhà anh B khoảng 7m. S túm cổ áo anh B bắt anh Bắc q gối trước cổng và đánh anh B. Anh B gọi bố mẹ để xin tiền. Lúc này, ông Vũ Văn B1 (là bố anh B) bức xúc về việc các đối tượng đưa anh B về nhà để đòi tiền nên giữa ông B1 và nhóm của M cãi nhau. M tiếp tục dùng tay tát anh B. Lúc này, bà Lê Thị N1 (mẹ anh B) và anh Vũ Văn N (là anh trai của anh B) ra mở cổng. Nhóm của M nói với gia đình anh B là anh B mượn 02 xe mô tô của em M cầm cố, nay phải đưa tiền chuộc lại xe, mục đích để gia đình anh B nhanh chóng trả tiền. Bà N1 nói không có tiền, còn anh N gọi điện thoại cho người quen nhưng không vay được tiền. Anh N ra cổng xin khất nợ nhưng nhóm M không đồng ý. Lúc này, Nguyễn Văn H1 nhìn thấy chiếc xe mô tô Yamaha Exciter màu đen, biển kiểm soát 36B8-608.74 của anh N đang dựng trong sân thì nói với anh N mang xe đi cầm cố mà chuộc xe anh B đã cầm cố ra. Do thấy anh B bị các đối tượng đưa về bắt quỳ trước cổng nhà xin tiền bố mẹ, bị các đối tượng đánh để đòi nợ, sợ anh B bị đánh tiếp nên anh N buộc phải mang xe đi cầm cố theo yêu cầu của nhóm M, đồng thời xin nhóm M cho anh B vào nhà.

Nhóm của M cho anh B vào nhà, sau đó dẫn anh N đi cầm cố xe. M, S và anh Lê Văn L3 đi taxi, còn anh N chở Nguyễn Văn H1 đi theo xe taxi, anh Đ (em trai anh N) đi một mình theo sau để chở anh N về sau khi cầm cố xe của anh N. Trên đường đi, M gọi điện cho anh Lê Ngọc D1, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã Y, huyện Y nói với anh D1 để anh D1 nhận cầm cố xe và dặn anh D1 khi anh N đến thì bảo để xe ở đây, còn xe cắm trước thì mai đến lấy sau, với mục đích cho anh N tin rằng anh B đã cầm cố xe của nhóm M, nên anh N phải cầm cố xe của mình, muốn lấy xe thì phải đưa tiền để chuộc xe. Tại nhà anh D1, N đưa giấy tờ xe cho M, M đưa lại giấy tờ xe cho anh D1, N đưa xe cho anh D1, nhưng không làm giấy tờ cầm cố. Do anh D1 say rượu nên nói với nhóm M và anh N ngày mai đến làm thủ tục cầm cố. Sau đó cả nhóm M và anh N về nhà. Sáng ngày 30/5/2023, anh D1 gọi điện cho M đến lấy xe, nhưng M bảo bận để một hai ngày nữa sẽ đến lấy xe.

Sáng ngày 31/5/2023 ông Vũ Văn B1 đã báo cáo sự việc đến Công an thị trấn Q. Ngày 01 và 02/6/2023, anh D1 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe nêu trên của anh N và 01 diện thoại Iphone 12 Pro màu trắng, đã qua sử dụng, lắp sim số thuê bao 0983.271.078 của anh D1 cho Cơ quan điều tra.

Tại Bản kết luận định giá số 37/KL-HĐĐGTS ngày 30/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y kết luận: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B8-608.74 nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter, màu đen đã qua sử dụng tại thời điểm xảy ra sự việc trị giá 25.000.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra, anh Lê Ngọc D1 đã giao nộp 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu đen biển kiểm soát 36B8 - 608.74, xe đã qua sử dụng, không có gương chiếu hậu, 01 Giấy đăng ký xe mang tên Vũ Văn N và 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu trắng, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0983.271.078. Nguyễn Công M giao nộp 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A30 màu xanh, đã qua sử dụng, lắp sim số thuê bao 0336.459.826.

Đối với chiếc xe mô tô Yamaha Exciter màu đen biển kiểm soát 36B8 - 608.74, sau khi định giá tài sản, Cơ quan điều tra đã trả lại xe và đăng ký xe cho chủ sở hữu là anh Vũ Văn N.

Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Văn N đã nhận lại chiếc xe mô tô và đăng ký xe, nên không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKSYÐ ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố Nguyễn Công M, Nguyễn Thanh S và Nguyễn Văn H1 về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Các bị cáo Nguyễn Công M và Nguyễn Thanh S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Nguyễn Văn H1 thừa nhận đồng phạm với các bị cáo M và S, nhưng không thừa nhận là người yêu cầu anh N mang xe đi cầm cố.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Thanh S và Nguyễn Văn H1 phạm tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nguyễn Công M từ 03 năm 06 tháng đến 03 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/3/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nguyễn Thanh S từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 10 tháng tù của Bản án số 100/2024/HS-ST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án, được trừ đi thời gian đã chấp hành của bán án số 100/2024/HS-ST là 08 tháng 25 ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày xét xử sơ thẩm 26/7/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nguyễn Văn H1 từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/5/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

  • + Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A30 màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Công M.
  • + Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim số thuê bao 0336.459.826 lắp bên trong điện thoại Sam sung Galaxy A30 màu xanh nêu trên.
  • + T1 trả lại cho anh Lê Ngọc D1 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu trắng, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim số thuê bao 0983.271.078.

Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Công M và Nguyễn Thanh S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Nguyễn Văn H1 thừa nhận đồng phạm với các bị cáo M và S, nhưng không thừa nhận là người yêu cầu anh N mang xe đi cầm cố. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo M, anh Vũ Văn N và anh Vũ Văn B, có đủ cơ sở kết luận bị cáo H1 là người yêu cầu anh N mang xe đi cầm cố.

Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 23 giờ ngày 29/5/2023, xuất phát từ việc tìm anh Vũ Văn B để đòi nợ cho anh Lê Văn H2, Nguyễn Công M đã có hành vi đưa anh B lên xe taxi và tát anh B, đưa anh B ra khu vực cầu K, xã Y đe dọa anh B yêu cầu anh B phải trả nợ. Sau đó, M cùng Nguyễn Thanh S và Nguyễn Văn H1 đưa anh B về nhà tại tổ D, thị trấn Q, huyện Y bắt anh Bắc q gối trước cổng, dùng tay, chân đánh anh B, yêu cầu anh B và gia đình phải trả tiền. Anh Vũ Văn N lo sợ em trai bị đánh, sợ ảnh hưởng đến gia đình nên buộc phải mang chiếc xe mô tô Yamaha Exciter màu đen biển kiểm soát 36B8-608.74 có giá trị 25.000.000 đồng của anh N đi cầm cố nhằm chuộc xe cho B theo yêu cầu của các bị cáo.

Các bị cáo đã có hành vi dùng vũ lực làm cho bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Đây là hành vi khách quan của tội cướp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Thanh S và Nguyễn Văn H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quan hệ pháp luật xâm phạm và vai trò của các bị cáo.

Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, phòng ngừa chung.

Các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội nên là đồng phạm. Tuy nhiên, các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, không bàn bạc, phân công vai trò từ trước nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó: Bị cáo Nguyễn Công M là người khởi xướng tham gia từ đầu, sau đó rủ thêm Nguyễn Thanh S và Nguyễn Văn H1, nên có vai trò số 1. Các bị cáo Nguyễn Thanh S và Nguyễn Văn H1 có vai trò số 2 trong vụ án.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Công M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Thanh S và Nguyễn Văn H1 phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo M, S và H1 đều thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo S có bố là người có công với cách mạng, được tặng thưởng nhiều huân, huy chương, nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội rất nghiêm trọng, nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn mới đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo S đang chấp hành hình phạt tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, mà lại bị xét xử về tội phạm trước khi có bản án này, căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự phải tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án. Thời gian chấp hành hình phạt của Bản án số 100/2024/HS-ST từ ngày 30/10/2023 đến ngày 25/7/2024 là 08 tháng 25 ngày được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày xét xử sơ thẩm 26/7/2024.

Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A30 màu xanh thu giữ của bị cáo M là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 thẻ sim số thuê bao 0336.459.826 gắn bên trong điện thoại này thì tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu trắng, bên trong gắn sim số thuê bao 0983.271.078, không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho anh Lê Ngọc D1.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Văn N đã nhận lại chiếc xe mô tô và đăng ký xe, không yêu cầu bồi thường gì khác, nên không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác có liên quan:

  • - Đối với anh Lê Huy T là người được Nguyễn Công M rủ đi cùng: Khi M tìm thấy anh Vũ Văn B và đưa lên xe taxi, M hỏi tiền anh B nhưng B khất nợ nên M tát anh B 2 - 3 cái. T cho rằng anh B trả lời láo nên T cũng dùng tay tát vào mặt B một cái và không có lời nói hành động gì khác, mục đích tát anh B không phải để chiếm đoạt tài sản. Do vậy hành vi của anh Lê Huy T không đủ yếu tố cầu thành tội phạm.
  • - Đối với anh Nguyễn Thiện H3 là người được Nguyễn Công M rủ đi cùng khi tìm anh B, trong quá trình diễn ra sự việc Nguyễn Thiện H3 không có lời nói, hành động gì nhằm đe dọa đối với anh Vũ Văn B. Vì vậy không có căn cứ để xử lý hình sự đối với anh Nguyễn Thiện H3.
  • - Đối với anh Lê Văn L3 là người Nguyễn Công M nhờ liên lạc với anh B để tìm anh B. Anh L3 không biết mục đích của M tìm anh B để làm gì. Việc M nhờ anh L3 tìm anh B thì anh L3 tự nguyện đồng ý. Quá trình diễn ra sự việc thì anh L3 không tham gia, không có lời nói, hành động giúp sức cho các bị cáo. Hành vi của anh Lê Văn L3 không cấu thành tội phạm.
  • - Đối với anh Hoàng Văn L4 là lái xe taxi chở nhóm M từ khi bắt đầu xảy ra vụ việc cho đên khi kết thúc, anh L4 không được bàn bạc, không tham gia đánh, đe doạ gì ai, trong suốt quá trình xảy ra vụ việc thì anh L4 chỉ ngồi trên ô tô và lái xe theo yêu cầu của M. Vì vậy không có căn cứ xử lý hình sự đối với anh L4.
  • - Đối với anh Lê Văn H2 và anh Lê Hữu L2: Anh Lê Văn H2 nói với Lê Hữu L2 sau đó anh Lê Hữu L2 nhờ M tìm anh B cho anh Lê Văn H2 nói chuyện chứ không trao đổi thống nhất về việc M đánh anh B để đòi nợ. Vì vậy anh Lê Văn H2 và anh Lê Hữu L2 không đồng phạm với các bị cáo trong vụ án này.
  • - Đối với anh Lê Ngọc D1 là người được Nguyễn Công M liên lạc nhờ khi anh N mang xe đến thì cầm cố xe. Anh D1 không biết chiếc xe anh N mang đến là do phạm tội mà có nên đã đồng ý. Mặt khác khi anh N mang xe đến thì trực tiếp giao cho D1 và có giấy tờ xe mang tên anh N. Do vậy hành vi của anh D1 không đồng phạm với các bị cáo, không có căn cứ để xử lý hình sự đối với anh D1.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Thanh S và Nguyễn Văn H1 phạm tội “Cướp tài sản”.

2. Về hình phạt:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Công M 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 26/3/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 55, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 10 (Mười) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HS-ST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 (Bốn) năm 01 (Một) tháng tù. Được trừ đi thời gian đã chấp hành hình phạt của Bản án số 100/2024/HS-ST là 08 tháng 25 ngày tù. Bị cáo còn phải chấp hành 03 (Ba) năm 04 (Bốn) tháng 05 (Năm) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/7/2024.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 09/5/2024.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A30 màu xanh, số Imei 1: 358384101700918, số Imei 2: 358385101700915, thu giữ của bị cáo Nguyễn Công M.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 thẻ sim số thuê bao 0336.459.826 lắp bên trong điện thoại Sam sung Galaxy A30 màu xanh nêu trên.
  • - Tuyên trả lại cho anh Lê Ngọc D1 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu trắng, có số Imei: 353073113503239, bên trong lắp sim số thuê bao 0983.271.078.

Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK 55 ngày 17/6/2024.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Công M, Nguyễn Thanh S và Nguyễn Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - Công an huyện Yên Định;
  • - Chi cục THADS Yên Định;
  • - Các bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa về hình sự sơ thẩm về tội cướp tài sản

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử Nguyễn Công M và đồng phạm phạm tội cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger