Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/KDTM-ST

Ngày: 26 – 4 – 2024

Tr/c HĐ mua bán hàng hoá

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Nguyên – Bà Đặng Thị Mỹ Hường
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 02/2024/TLST-KDTM ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-KDTM ngày 20/02/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 124/2024/QĐST-KDTM ngày 11/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 177/2024/QĐST-KDTM ngày 02/4/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Công ty Cổ phần X (viết tắt là Công ty X). Địa chỉ: Số C, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Việt Trần C – Tổng giám đốc.
  • Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Huỳnh H – kế toán. Có đơn xin vắng mặt
  • - Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ (viết tắt Công ty Đ). Địa chỉ: Số B, T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt
  • Địa chỉ liên lạc: phòng 701, số A T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội. SĐT: 0914.989.xxx – 0919.444.078
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Khương Hoàng L – Giám đốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  • - Nguyên đơn Công ty Cổ phần X trình bày:

Công ty X và Công ty Đ có ký hợp đồng kinh tế số 615/HĐKT – BK.2022 ngày 24/05/2022 v/v mua bán cống BTLT cung cấp cho Công trình: Nâng cấp, mở rộng tỉnh lộ 954 - Đoạn qua thị trấn P - huyện P - tỉnh An Giang.

Căn cứ Điều 5 về trách nhiệm và nghĩa vụ của bên A: “Trường hợp bên A vi phạm hợp đồng thì bên A phải chịu phạt vi phạm hợp đồng với số tiền tương đương với 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, đồng thời phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bên A nhận được thông báo về việc phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại mà bên A không thực hiện thì bên B có quyền chấm dứt hợp đồng và khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết”.

Căn cứ bảng đối chiếu công nợ ngày 19/8/2022, công ty Đ còn nợ thanh toán như sau: Khối lượng đã giao: 698.315.000 đồng; Đã thanh toán: 647.500.000 đồng; Còn phải thanh toán: 50.815.000 đồng; Vi phạm điều khoản thanh toán: 9.924.800 đồng. Phạt vi phạm điều khoản thanh toán: 8% x (822.375.000 đồng – 698.315.000 đồng) = 9.924.800đ; Lãi chậm trả: 6.290.000 đồng. (Lãi chậm trả tính từ ngày 19/8/2022 – 02/01/2024: 502 ngày x 9% /năm x 50.815.000 đồng = 6.290.000 đồng). Tổng giá trị còn phải thanh toán: 67.029.800 đồng.

Công ty X đã liên hệ và làm thông báo yêu cầu thanh toán nhiều lần để yêu cầu thanh toán nợ nhưng cho đến nay vẫn chưa thanh toán.

Công ty X yêu cầu Toà án buộc Công ty Đ có nghĩa vụ thanh toán cho công ty X là: số tiền 67.029.800 đồng (Sáu mươi bảy triệu, không trăm hai mươi chín ngàn tám trăm đồng), đồng thời tính lãi tiếp tục từ ngày 03/01/2024 đến ngày có bản án sơ thẩm.

Án phí dân sự: theo quy định pháp luật.

Theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 24/4/2024: Công ty X xin xét xử vắng mặt ngày 26/4/2024 và xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, rút lại yêu cầu đối với phạt vi phạm điều khoản và lãi chậm trả. Công ty X xác định chỉ yêu cầu công ty Đ trả số tiền còn nợ: 50.815.000 đồng (năm mươi triệu, tám trăm mười lăm ngàn đồng).

  • - Bị đơn công ty Cổ phần Đ trình bày:

Công ty xác định có ký kết hợp đồng số 615/HĐKT-BK.2022 ngày 24/5/2022 với Công ty X. Số liệu ghi nhận giữa hai bên như sau:

Tổng giá trị hàng hóa công ty X đã giao: 698.315.000 đồng

Tổng giá trị Công ty Đ đã thanh toán: 647.500.000 đồng

Giá trị công ty Đ còn nợ công ty X: 50.815.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: công ty X khởi kiện về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá đối với Công ty Đ, theo điều 7 hợp đồng số 615/HĐKT-BK.2022 ngày 24/5/2022, hai bên thỏa thuận lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên giải quyết nên Tòa án nhân dân Tp.L thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo qui định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: Công ty X và công ty Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng công ty X có đơn xin xét xử vắng mặt và công ty Đ vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ hai nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt công ty X, công ty Đ là phù hợp với qui định pháp luật tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Công ty X yêu cầu Công ty Đ thanh toán số tiền mua hàng còn nợ và tiền lãi, theo đó công ty X cung cấp: Hợp đồng kinh tế số 615/HĐKT – BK.2022 ngày 24/5/2022 ký giữa Công ty X và Công ty Đ; Phụ lục hợp đồng kinh tế số 1509/PLHĐ – BK.2022 ngày 04/7/2022 ký giữa Công ty X và Công ty Đ; Bảng công chiếu công nợ ngày 19/8/2022 và các thông báo yêu cầu thanh toán tiền nợ mua hàng để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện.

[2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện của công ty X, phía công ty Đ có văn bản số 2503/CV-PS ngày 25/3/2024 về việc làm rõ nội dung thanh toán, theo đó công ty Đ đã thừa nhận số tiền còn nợ công ty X là 50.815.000đồng (năm mươi triệu, tám trăm mười lăm ngàn đồng). Như vậy, căn cứ vào tài liệu chứng cứ nêu trên và văn bản trình bày ý kiến của công ty Đ đã có đủ cơ sở xác định giữa Công ty X và công ty Đ có xác lập hợp đồng kinh tế số 615/HĐKT-BK.2022 ngày 24/5/2022, phụ lục hợp đồng số 1509/PLHĐ-BK.22 ngày 04/7/2022, việc xác lập hợp đồng này là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên trong hợp đồng.

[2.3] Về việc thực hiện hợp đồng: theo bảng đối chiếu công nợ ngày 19/8/2022 và văn bản trình bày ý kiến của công ty Đ cho thấy công ty Đ còn nợ công ty X số tiền vốn 50.815.000đồng (năm mươi triệu, tám trăm mười lăm ngàn đồng) là thật. Xét thấy, Công ty Đ chưa thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán cho phía công ty X là vi phạm Điều 50 Luật thương mại 2005. Do đó công ty X khởi kiện đối với số tiền còn nợ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc Công ty Đ trả cho Công ty X số tiền mua hàng còn nợ là 50.815.000 đồng (năm mươi triệu, tám trăm mười lăm ngàn đồng).

[2.4] Về yêu cầu tính lãi và phạt vi phạm hợp đồng: Công ty X rút lại yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu này, xét thấy việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện này là tự nguyện và phù hợp với quy định pháp luật do đó Hội đồng xét xử chấp nhận, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.5] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận do đó công ty X không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp cho công ty X. Công ty Đ phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ Điều 30, Điều 35, Điều 147, Điều 217, Điều 218, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 24, Điều 50 Luật Thương Mại 2005;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần X. Buộc công ty Cổ phần Đ trả cho Công ty cổ phần X số tiền 50.815.000đ (năm mươi triệu tám trăm mười lăm ngàn đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu về phạt vi phạm và tiền lãi chậm trả.

Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty Cổ phần Đ phải chịu 3.000.000đ (ba triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả cho Công ty cổ phần X số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001480 ngày 22/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Công ty cổ phần X và Công ty Cổ phần Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh AG;
  • - VKSND.TP.Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS Tp.Long Xuyên;
  • - Văn phòng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ ./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/KDTM-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá

  • Số bản án: 65/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử vắng mặt bị đơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger