|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-9-2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Văn Du
- Ông Nguyễn Văn Trình
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 175/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 161/2024/QĐ-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Xuân L, sinh năm 1966
Địa chỉ: Kiệt A đường T,quận H, thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Đỗ Hữu Đ, sinh năm 1966
Địa chỉ: Tổ A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 4 năm 2024, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Xuân L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đỗ Hữu Đ kết hôn vào năm 2023 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Bà và ông Đỗ Hữu Đ trước đây đã là vợ chồng và có với nhau 03 con chung. Vào năm 2016 bà và ông Đ đã ly hôn vì ông Đ ngoại tình, đến sinh sống với một người khác. Năm 2023, ông Đ có ý định quay về, bà vì các con thuyết phục nên cũng đã đồng ý cho ông Đ quay về và kết hôn lại vào năm 2023. Sau khi kết hôn lại, bà và ông Đ chỉ sống với nhau được 28 ngày thì ông Đ tiếp lại tục đi theo người phụ nữ khác. Trước đây bà và ông Đ có kết hôn vào năm 1993 và ly hôn vào năm 2016. Sau thời gian gần 18 năm, ông Đ quay về xin được sống chung cùng với con cái nên đã đăng kí kết hôn vào năm 2023. Trong vòng 28 ngày từ khi kết hôn ông Đ lại tiếp tục quan hệ với người phụ nữ khác và rời khỏi nhà. Nay bà xét thấy, bà không còn tình cảm gì đối với ông Đ, vợ chồng bà không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung giữa vợ chồng bà không thể kéo dài nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Đ.
- Về quan hệ con chung: Bà xác định vợ chồng bà có 02 con chung tên Đỗ Thị Thảo T, sinh ngày 15/5/1994 và Đỗ Hữu Hoàng A, sinh ngày 07/8/1996. Hiện các con đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà L xác nhận không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà L xác nhận không có nợ chung.
* Đối với bị đơn ông Đỗ Hữu Đ:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Đỗ Hữu Đ không có mặt tại Tòa án và không có bản tự khai gửi Tòa án.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Trần Thị Xuân L và ông Đỗ Hữu Đ đã thực sự trầm trọng, quá trình giải quyết vụ án, do vợ chồng bà Trần Thị Xuân L, ông Đỗ Hữu Đ sống với nhau thời gian ngắn nên không xác minh được tình trạng hôn nhân của bà L và ông Đ. Tuy nhiên, căn cứ các nội dung trong hồ sơ vụ án thể hiện bà L và ông Đ không có cuộc sống như vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L và ông Đ đã thật sự trầm trọng, bà L xác định hiện không còn tình cảm với ông Đ. Do vậy, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Xuân L, xử cho bà L được ly hôn ông Đ.
Về con chung: Các con đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa xét xử.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác nhận không có.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Nguyên đơn Bà Trần Thị Xuân L khởi kiện yêu cầu được ly hôn bị đơn ông Đỗ Hữu Đ có địa chỉ cư trú tại: Tổ A, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
[2] Bị đơn ông Đỗ Hữu Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, căn cứ Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn ông Đỗ Hữu Đ.
Về nội dung vụ án:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Xuân L yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn ông Đỗ Hữu Đ.
Xét thấy: Qua lời khai của bà Trần Thị Xuân L cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bà Trần Thị Xuân L và ông Đỗ Hữu Đ đã kết hôn, đã ly hôn và kết hôn lại vào ngày 18 tháng 7 năm 2023, sau khi kết hôn lại bà L và ông Đ chung sống với nhau được 28 ngày thì bà L và ông Đ xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà L trình bày là do ông Đ bỏ bà đi sống với người phụ nữ khác. Hiện bà và các con sống với nhau tại Kiệt A đường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Đỗ Hữu Đ đến để tham gia các phiên hòa giải giữa vợ chồng nhưng ông Đ không đến. Điều này chứng tỏ ông Đ không quan tâm, không có thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình. Bà L xác định bà không còn tình cảm gì với ông Đ.
Xét mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà L và ông Đ đã thật sự trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, đời sống chung giữa vợ chồng không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX cho bà Trần Thị Xuân L được ly hôn ông Đỗ Hữu Đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Bà L xác nhân bà và ông Đ có 02 con chung tên Đỗ Thị Thảo T, sinh ngày 15/5/1994 và Đỗ Hữu Hoàng A, sinh ngày 07/8/1996. Các con đã đủ 18 tuổi nên HĐXX không đề cập xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác nhận không có nên HĐXX không xem xét.
[6] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm Bà Trần Thị Xuân L phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhân đơn khởi kiện của bà Trần Thị Xuân L đối với ông Đỗ Hữu Đ về việc: “Tranh chấp ly hôn”.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Xuân L được ly hôn ông Đỗ Hữu Đ.
(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 43/2023 ngày 18/7/2023 của UBND phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng)
- Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Xuân L và ông Đỗ Hữu Đ có 02 con chung tên Đỗ Thị Thảo T, sinh ngày 15/5/1994 và Đỗ Hữu Hoàng A, sinh ngày 07/8/1996. Các con chung đã đủ 18 tuổi nên HĐXX không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Xuân L xác nhận không có.
- Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình bà Trần Thị Xuân L phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001578 ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, bà Trần Thị Xuân L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình.
- Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Xuân L và ông Đỗ Hữu Đ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Văn Trình Mai Văn Du |
Trương Thị Hai |
Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Xuân L xin được ly hôn ông Đỗ Hữu Đ
