Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25 – 4 – 2024

V/v tranh chấp Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Liêm – Bà Ngô Thị Ngọc Cúc
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Kiên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm – kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn"

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/3/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 182/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Lê Hồng H, sinh năm 1956; Nơi cư trú: Số F khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0377.722.xxx. Vắng mặt
  • - Bị đơn: Bà Võ Thị Lệ N, sinh năm 1957; Nơi cư trú: Số F khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0385.144.xxx – 0339.156.094. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lê Hồng H trình bày trong quá trình giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: ông H và bà N chung sống vợ chồng với nhau từ năm 1980, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Ông bà chung sống hạnh phúc một thời gian và có 01 con chung sinh năm 1982. Tuy nhiên sau này khi ông H lớn tuổi, bà N không quan tâm chăm sóc mà có mối quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Tình cảm vợ chông không còn nên ông yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Ông bà có 01 (một) con chung tên Lê Anh K, sinh năm 1982, đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về án phí sơ thẩm: ông xin miễn án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm.

Bị đơn bà Võ Thị Lệ N đã được Tòa án tổng đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng bà không gửi văn bản tự khai và không tham gia tổ tụng nên không ghi nhận được ý kiến của bà.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến:

  • + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không tham gia phiên hòa giải, công khai chứng cứ, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • + Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho ông Hải ly h với bà N. Ông bà có 01 (một) con chung tên Lê Anh K, sinh năm 1982, đã trưởng thành và có khả năng lao động. Nợ chung và tài sản chung: không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Ông H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà N, địa chỉ cư trú của bà N thuộc thành phố L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Hồng H và bà Võ Thị Lệ N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng ông H có đơn xin xét xử vắng mặt, bà N thì vắng mặt không có lý do chính đáng tại phiên toà lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H, bà N theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Ông H và bà N tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 1980 nhưng không đăng ký kết hôn. Theo điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội và Thông tư 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-B΄ ngày 03/1/2001 về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình thì trường hợp hai bên nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng, xác lập quan hệ vợ chồng với nhau trước ngày 03/01/1987 dù không đăng ký kết hôn vẫn được pháp luật công nhận là hôn nhân thực tế, quyền và nghĩa vụ được áp dụng như hôn nhân hợp pháp. Nay cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn nên ông H yêu cầu được ly hôn với bà N.

[2.2] Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà N để bà thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn tuy nhiên cho đến nay bà N vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như bà tự từ bỏ quyền lợi của bản thân. Qua xác minh thì địa phương cho biết bà Võ Thị Lệ N có đăng ký hộ khẩu thường trú số 664/17, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.

[2.3] Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cũng như chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống nhưng trên thực tế giữa ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, không còn sự thăm nom, chăm sóc lẫn nhau và không còn chung sống cùng nhau. Trong suốt thời gian vừa qua, ông bà vẫn không tìm được phương pháp hòa giải mâu thuẫn do đó ông H gửi đơn yêu cầu ly hôn. Nay ông H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, từ chối hòa giải và xin vắng mặt khi xét xử cho thấy sự cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn, bà N thì trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn lại với nhau nhưng bà N vắng mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đến Tòa án, điều này chứng tỏ bà N không có thiện chí muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của ông H. Như vậy cho thấy cuộc sống chung của ông bà không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai do đó yêu cầu ly hôn của ông H với bà N là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Về con chung: Ông bà có 01 (một) con chung tên Lê Anh K sinh năm 1982, nay đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[2.5] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: ông H được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm do thuộc diện người cao tuổi theo quy định pháp luật. Bà N không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
  • - Căn cứ điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/1/2001 về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hồng H.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Lê Hồng Hải ly h1 với bà Võ Thị Lệ N.
  • - Về quan hệ con chung: Ông bà có 01 (một) con chung tên Lê Anh K sinh năm 1982, nay đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  • - Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
  • - Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Lê Hồng H được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm do thuộc diện người cao tuổi theo quy định pháp luật. Bà Võ Thị Lệ N không phải chịu án phí sơ thẩm.

Ông Lê Hồng H và bà Võ Thị Lệ N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự cùng cấp;
  • - Ủy ban nhân dân xã/phường;
  • - Đương sự;
  • - Lưu; hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hôn nhân thực tế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger