|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 65/2024/HSST Ngày: 25/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ-THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dương Hồng Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Anh Dũng
2. Ông Phạm Thế Ngọc
-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 04 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2024/TLST-HS, ngày 04 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Trường G - Sinh năm 1986; Tên gọi khác: Không; ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện T, TP Hà Nội; Chỗ ở: Xóm G, thôn Q, xã V, huyện T, TP Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố Vũ Xuân H, sinh năm 1950; Họ và tên mẹ Huỳnh Thị C (Đã chết): Bị cáo là con duy nhất; Theo danh chỉ bản số 43 lập ngày 15/01/2024 của Công an huyện T, TP Hà Nội về tiền án, tiền sự: 01 tiền án; 01 tiền sự.
Tiền án: Tại bản án sơ thẩm số 91/2020/HSST ngày 19/06/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/05/2021.
Tiền sự: Ngày 13/09/2023, bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy số tiền 1.500.000 đồng.
Nhân thân:
- Tại bản án số 88/2004/HSST ngày 18/11/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xử phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm.
- Tại bản án sơ thẩm số 123/2005/HSST, ngày 04/11/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 và phải chấp hành hình phạt 07 tháng tù theo Bản án số 88/HSST ngày 18/11/2004 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 22 tháng tù giam, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/03/2007.
- Tại bản án sơ thẩm số 03/2013/HSST Ngày 15/01/2013, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2015.
- Ngày 27/10/2011, bị Công an thị trấn V – Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích số tiền 1.500.000 đồng.
- Ngày 13/01/2018, bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
- Ngày 20/06/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện số 4.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố H. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ ngày 10/01/2024, khi Vũ Trường G đang ở nhà thì có một nam thanh niên (là bạn nghiện của G) đến nhờ G đi mua ma túy heroine hộ anh ta với số tiền 1.200.000 đồng. G đồng ý, cầm tiền và điều khiển 01 xe đạp điện không rõ nhãn hiệu đi đến khu vực cầu V thuộc thị trấn V, huyện T, Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, G gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 04 gói giấy bên trong chứa ma túy Heroine với giá 1.200.000 đồng. G cầm 04 gói ma túy vừa mua được ở trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe đi về để giao bán ma túy.
Khoảng 11 giờ ngày 10/01/2024, tổ công tác Công an xã N – Công an huyện T làm nhiệm vụ tại khu vực đường P, thị trấn V, huyện T, Hà Nội thì phát hiện G đang điều khiển xe đạp điện có biểu hiện nghi vấn, khi G điều khiển xe đạp điện đến ngõ 31 đường P, thị trấn V, huyện T, Hà Nội thì bị tổ công tác kiểm tra hành chính, phát hiện và thu giữ trong lòng bàn tay trái của G 04 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, G khai nhận chất bột màu trắng bên trong 04 gói giấy là ma túy loại Heroine G vừa mua của một người đàn ông không quen biết để giao cho khách. G dự định sẽ đưa cho khách 03 gói ma túy, còn 01 gói ma túy G giữ lại cho bản thân coi như là hưởng lợi từ việc mua ma túy hộ. G khai nếu có ai hỏi mua thì G sẽ tiếp tục bán lại gói ma túy trên để kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa G về trụ sở giải quyết.
Ngoài ra, Cơ quan Công an còn thu giữ của G 01 xe đạp điện không rõ nhãn hiệu đã qua sử dụng.
Hồi 19 giờ 40 phút ngày 10/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Trường G tại xóm G, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội, kết quả: không phát hiện thu giữ được gì.
Ngày 10/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành trưng cầu giám định số ma túy thu giữ của Vũ Trường G.
Tại bản kết luận giám định số 628/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
“- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,201 gam.
- Chất bột màu trắng bên trong 03 gói giấy đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,570 gam”
Tổng khối lượng ma túy heroine thu giữ của G là 0,771 gam. Cơ quan giám định đã sử dụng 0,08gam trong tổng số 0,771 gam để làm mẫu giám định, còn lại 0,691 gam Heroine hoàn trả cho Cơ quan CSĐT – Công an huyện T.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận như bản cáo trạng đã công bố: Do nghiện ma túy, bị cáo mua hộ ma túy cho người khác để được hưởng lợi từ việc người nhờ mua chia lại ma túy. Nên vào hồi 10 giờ ngày 10/01/2024 tại khu vực ngõ 31 đường P, thị trấn V, huyện T, Hà Nội, khi G đang cất giữ 04 gói giấy bên trong chứa ma túy loại Heroine có tổng khối lượng 0,771 gam để bán kiếm lời, trong đó 03 gói ma túy có khối lượng 0,570 gam G sẽ đưa cho khách nhờ mua hộ ma túy, còn 01 gói ma túy khối lượng 0,201 gam G cất giữ để tiếp tục bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã N – Công an huyện T bắt quả tang và thu giữ tang vật.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận giữ nguyên nội dung bản cáo trạng số 54/CT-VKSTT ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố bị cáo Vũ Trường G về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 BLTTHS 2015.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Trường G mức án từ 38 tháng đến 42 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 10/01/2024.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng: Cho tiêu hủy số ma túy là heroin thu giữ của bị cáo.
Đối với 01 xe đạp điện không rõ nhãn hiệu là tài sản của G, được sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên đề nghị sung công quỹ nhà nước.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho G và người đàn ông nhờ G mua ma túy hộ, do G khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của những người này nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý khi.
Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa và lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy, bị cáo G mua hộ ma túy cho người khác để được hưởng lợi từ việc người nhờ mua chia lại ma túy. Nên vào hồi 10 giờ ngày 10/01/2024 tại khu vực ngõ 31 đường P, thị trấn V, huyện T, Hà Nội, khi Vũ Trường G đang cất giữ 04 gói giấy bên trong chứa ma túy loại Heroine có tổng khối lượng 0,771 gam để bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an xã N – Công an huyện T bắt quả tang và thu giữ tang vật. Hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo nhắm mua bán để kiếm đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bản án số 123/2005/HSST ngày 04/11/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã thi hành xong hình phạt tù, án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm. Đối với số tiền 500.000 đồng theo bản án trên bị cáo chiếm đoạt của bị hại, đến thời điểm phạm tội mới bị cáo chưa hoàn trả cho bị hại, cũng không có tài liệu chứng minh bị hại cho bị cáo số tiền trên. Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS “bị cáo đương nhiên được xóa án tích nếu chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời hạn thử thách án treo, người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án...”. Như vậy, Bộ luật hình sự không quy định trường hợp loại trừ người bị kết án chưa chấp hành xong các quyết định khác của bản án vì bất kỳ lý do gì. Do đó, bản án số 123/2005/HSST ngày 04/11/2005 đối với bị cáo G chưa được xóa án tích. Việc không thực hiện đầy đủ các quyết định của bản án thể hiện bị cáo coi thường pháp luật. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo G, HĐXX nhận định bị cáo là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Quan điểm của đại diện VKS về bị cáo K không có tình tiến tăng nặng là “tái phạm” không phù hợp với nhận định của HĐXX. Ngoài ra, bị cáo G còn bị một tiền sự xử phạt hành chính 1.500.000 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quyết định số 125/QĐXPVPHC ngày 13/7/2023 của Công an huyện T đến nay chưa hết thời hiệu.
Thêm vào đó, bị cáo G có 3 lần phạm tội khác cụ thể: Tại bản án số 88/2004/HSST ngày 18/11/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xử 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án số 123/2005/HSST ngày 04/11/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xử phạt 13 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; Tại bản án số 03/2013/HSST ngày 15/01/2013, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội xử phạt 28 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ba bản án này của G đã được xóa án tích; Bị cáo G bị 03 lần xử phạt hành chính cụ thể: Ngày 27/10/2011, bị Công an thị trấn V – Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích số tiền 1.500.000 đồng; Ngày 13/01/2018, bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Ngày 20/06/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện số 4. Ba quyết định xử phạt hành chính đã hết thời hạn. Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bị cáo tàng trữ trái phép 0,771 gam ma túy Heroine với mục đích bán kiếm lời, mặc dù đã được cai nghiện, giáo dục về tác hại của ma túy nhưng vẫn tiết tục phạm tội về ma túy thể hiện bị cáo ngoan cố, Bị cáo G nhân thân xấu, nhiều tiền án, tiền sự liên quan đến ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX. [4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đại diện VKS đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX. [5] Về xử lý vật chứng:
Cho tịch thu, tiêu hủy ma túy là Heroin còn lại 0,691 gam heroin sau khi trừ lấy mẫu giám định, đây là ma túy trên là vật nhà nước cấm lưu hành
Đối với chiếc xe đạp điện không rõ nhãn hiệu đã qua sử dụng bị cáo dùng để đi mua bán ma túy nên cho sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho G và các đối tượng nhờ G mua ma túy, bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của những người này nên Cơ quan Điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoảng 1 Điều 52; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015; Điều 106, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015
- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Trường G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Trường G 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo
-
Về vật chứng:
Sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc xe đạp điện không rõ nhãn hiệu đã qua sử dụng (không kiểm tra chất lượng).
Cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chứa ma túy loại Heroin (0,151 gam còn lại sau giám định) bên ngoài có chữa ký của Vũ Trường G, giám định viên Trần Ngọc C1 và Phạm Văn B cán bộ công an xã N.
Cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chứa ma túy Heroin (0,540 gam còn lại sau giám định) bên ngoài có chữa ký của Vũ Trường G, giám định viên Trần Ngọc C1 và Phạm Văn B cán bộ công an xã N
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì)
-
Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Hồng Tuấn |
Bản án số 65/2024/HSST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 65/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
