|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HSST Ngày: 23/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Nguyên Lâm;
2. Bà Nguyễn Thị Lan;
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 05/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Quang T, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: thôn M, xã L, huyện H, TP . Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Nguyễn Quang X (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị Bích T1 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 07/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
- Tạ Duy B, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1976 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã L, huyện H, TP . Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Tạ Duy H và bà Nguyễn Thị L; Vợ: Nguyễn Hồng T2 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 07/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
- Nguyễn Hưng L1, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1977 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: thôn M, xã L, huyện H, TP . Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Con ông Nguyễn Hưng P (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); Vợ: Ngô Thị Diễm H1 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 07/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
- Trịnh Đắc S, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1970 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: thôn T, xã L, huyện H, TP . Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ, cấp bậc (trước khi thực hiện hành vi phạm tội): Đảng viên, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã L, Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã L Ngày 29/12/2023, Ủy ban kiểm tra huyện H có Quyết định số: 73-QĐ/UBKT đình chỉ sinh hoạt đảng; Con ông Trịnh Đắc D (đã chết) và bà Văn Thị V (đã chết); Vợ: Tạ Thị Ngọc D1 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 07/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
- Nguyễn Quang T3, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1975 tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT và chỗ ở: thôn Q, xã L, huyện H, TP . Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Nguyễn Quang T4 và bà Đỗ Thị N; Vợ: Nguyễn Thị H2 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 20/12/2023 đến ngày 07/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h ngày 20/12/2023, Nguyễn Hưng L1, Tạ Duy B, Nguyễn Quang T3 và Trịnh Đắc S đến nhà Nguyễn Quang T ở thôn M, xã L, huyện H, Hà Nội uống nước. Một lát sau, T rủ L1, B, T3, S đánh bạc dưới hình thức “đánh chắn” được thua bằng tiền, cả nhóm đồng ý. Sau đó, T chuẩn bị 02 bộ bài chắn 100 quân, 01 đĩa sứ và 01 nắp nhựa màu trắng loại nắp nhựa đựng bánh kẹo, 01 thảm ngồi màu xám để làm công cụ cho mọi người đánh bạc, T là người ngồi chia bài cho mọi người chơi. Hình thức chơi như sau: Trong một ván bài, T sẽ lấy 01 bộ bài chắn gồm 100 quân rồi chia ra 5 phần mỗi phần bài có 19 quân bài và 5 quân bài nọc, ai ù ván trước sẽ là người được cầm 5 quân bài nọc và một phần bài có 19 quân bài sau đó lấy 01 quân bài để vào phần bất kỳ của bốn phần dưới chiếu bốc cái ai có cái là người đánh đầu tiên. Còn 23 quân bài thì để ở đĩa (nọc). Mức độ ăn thua là xuông 300.000 đồng, dịch 100.000 đồng, gà 500.000 đồng, nghĩa là trong một ván bài ai có bài cước xuông thì mỗi người phải trả cho người có bài ù xuông là 300.000 đồng, cũng như thế ai có bài ù tôm mỗi người trả 500.000 đồng, bài ù lèo mỗi người trả 600.000 đồng, bài ù bạch địch thì mỗi người trả 700.000 đồng và tiền gà 500.000 đồng, tổng cộng là 1.200.000 đồng, bài ù tám đỏ mỗi người trả 800.000 đồng và tiền gà 500.000 đồng, tổng cộng là 1.300.000 đồng. Trong một ván bài, nếu ai có bài ù bạch địch, ù tám đỏ thì sẽ bỏ ra 100.000 đồng cho T. Quá trình đánh bạc, các đối tượng bỏ ra được khoảng 400.000 đồng - 500.000 đồng để ở chiếu bạc để khi nào đánh xong thì đưa cho T. Số tiền này, khi Cơ quan Công an bắt giữ thì ở dưới chiếu bạc, T chưa cầm. Trong quá trình đánh bạc do S và B thua nên Sáng vay của T số tiền 8.000.000 đồng, B vay của T số tiền 7.000.000 đồng. Sau đó, S và B đã trả lại số tiền này cho T, T để số tiền 15.000.000 đồng dưới chiếu bạc. Đến khoảng 23h30' cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện H tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện, bắt quả tang. Khi bắt quả tang có Tạ Công H3 (Sinh năm: 1976; NKTT: Thôn H, xã L, H, Hà Nội) có mặt ở đó cũng bị đưa về trụ sở làm rõ.
Vật chứng thu giữ:
- - Thu giữ trên chiếu bạc tiền ngân hàng N1 số tiền 39.000.000 đồng; 02 bộ bài chắn mỗi bộ có 100 quân bài, 01 đĩa sứ hình tròn có hình hoa hồng và 01 khay nhựa màu trắng loại nắp nhựa đựng bánh kẹo, 01 thảm ngồi màu xám có kích thước (2x2)m.
- - 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh đen, số IMEI 1: 353408117419018, số IMEI 2: 353409117419016, đã qua sử dụng bên trong lắp thẻ sim số 0936039718 (thu giữ của Trịnh Đắc S).
- - 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, bản 256GB, có số IMEI 1: 352850794307043, số IMEI 2: 352850794560047, đã qua sử dung bên trong trong lắp thẻ sim số 0917306669 (thu giữ của Nguyễn Hưng L1).
- - 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi MI 11 Lite màu đen 128GB, có mẫu M2101K9AG đã qua sử dụng bên trong có lắp thẻ sim số 0904516545 và số tiền 1.100.000 đồng, là số tiền riêng của Tưởng không phải tiền thu hồ của các đối tượng đánh bạc (thu giữ của Nguyễn Quang T).
- - 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, bản 128GB, có số IMEI 1: 358863667716327, số IMEI 2: 358863667847973, đã qua sử dung bên trong lắp thẻ sim số 0977455066 (thu giữ của Tạ Duy B).
- - Thu giữ trên người các đối tượng: Số tiền 1.000.000 đồng thu của Trịnh Đắc S, số tiền 2.100.000 đồng thu của Nguyễn Hưng L1, số tiền 50.000 đồng thu của Tạ Duy B, số tiền 2.300.000 đồng thu của Nguyễn Quang T3.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng Nguyễn Quang T, Nguyễn Hưng L1, Trịnh Đắc S, Nguyễn Quang T3 và Tạ Duy B đã khai nhận hành vi đánh bạc ngày 20/12/2023 tại nhà của T ở thôn M, xã L, huyện H, Hà Nội. Cụ thể như sau:
-
Nguyễn Quang T (chủ nhà) khai nhận: Ngày 20/12/2023, Nguyễn Hưng L1, Tạ Duy B, Nguyễn Quang T3 và Trịnh Đắc S đến nhà Nguyễn Quang T ở thôn M, xã L, huyện H, Hà Nội uống nước. Sau đó, T rủ L1, B, T3, S đánh bạc dưới hình thức “đánh chắn” được thua bằng tiền, thì cả nhóm đồng ý. Tưởng chuẩn bị 02 bộ bài chắn mỗi bộ có 100 quân bài, 01 đĩa sứ hình tròn có hình hoa hồng và 01 khay nhựa màu trắng loại nắp nhựa đựng bánh kẹo, 01 thảm ngồi màu xám có kích thước (2x2)m để đánh bạc.
Trong một ván bài, nếu ai có bài ù bạch địch, ù tám đỏ thì sẽ bỏ ra 100.000 đồng cho T. Quá trình đánh bạc, các đối tượng bỏ ra được khoảng 400.000 đồng - 500.000 đồng để ở chiếu bạc để khi nào đánh xong thì đưa cho T.
Quá trình đánh bạc, Trịnh Đắc S vay của T số tiền 8.000.000 đồng, Tạ Duy B vay của T số tiền 7.000.000 đồng để dùng vào mục đích đánh bạc. Sau đó, S và B đã trả lại số tiền này cho T. Tưởng để số tiền 15.000.000 đồng ở dưới chiếu bạc.
- Tạ Duy B khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, B mang theo số tiền 11.000.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc, thua hết tiền nên B vay của Tưởng 7.000.000 đồng. Sau đó, B đã trả số tiền vay cho T. Khi bị bắt, thu giữ trên người B số tiền 50.000 đồng.
- Nguyễn Hưng L1 khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, L1 mang theo số tiền 8.000.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc thì L1 thắng khoảng 15.000.000 đồng số tiền này để ở dưới chiếu bạc. Khi bị bắt, thu giữ trên người Lâm 2.100.000 đồng.
- Trịnh Đắc S khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, S mang theo số tiền 8.000.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc thua hết tiền nên Sáng vay của Tưởng 8.000.000 đồng. Sau đó, S đã trả lại số tiền vay cho T. Khi bị bắt, thu giữ trên người Sáng 1.000.000 đồng.
- Nguyễn Quang T3 khai nhận: Khi tham gia đánh bạc, T3 mang theo số tiền 3.000.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T3 thắng khoảng 3.000.000 đồng để ở dưới chiếu bạc. Khi bị bắt, thu giữ trên người Tường 2.300.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 41/CT-VKSHĐ ngày 26/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Quang T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, Nguyễn Hưng L1, Trịnh Đắc S, Nguyễn Quang T3, Tạ Duy B về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh mà Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng. Lời nói sau cùng, các bị cáo thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 65 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hưng L1, Trịnh Đắc S, Nguyễn Quang T3 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 65 Bộ luật hình sự tuyên phạt Tạ Duy B từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Trả lại cho bị cáo Trịnh Đắc S 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh đen, của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hưng L1 01 điện thoại nhãn Iphone 12 Promax màu xanh, của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang T 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi MI 11 Lite màu đen và số tiền 1.100.000 đồng, là tài sản riêng của của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Trả lại cho bị cáo Tạ Duy B 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài chắn mỗi bộ có 100 quân bài, 01 đĩa sứ hình tròn có hình hoa hồng và 01 khay nhựa màu trắng loại nắp nhựa đựng bánh kẹo, 01 thảm ngồi màu xám có kích thước (2x2)m.
- + Tịch thu sung công nhà nước số tiền 39.000.000 đồng thu trên chiếu bạc; số tiền thu trên người các bị cáo được sử dụng vào mục đích đánh bạc, cụ thể: 50.000 đồng thu của bị cáo B, 2.100.000 đồng thu của bị cáo L1, 1.000.000 đồng thu của bị cáo S, 2.300.000 đồng thu của bị cáo T3.
- - Buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 20h ngày 20/12/2023, tại nhà của Nguyễn Quang T ở thôn M, xã L, huyện H, Hà Nội, T đã rủ rê, chuẩn bị công cụ phương tiện, chia bài cho Nguyễn Hưng L1, Tạ Duy B, Nguyễn Quang T3 và Trịnh Đắc S tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức “đánh chắn”. Quá trình đánh bạc, T đã cho S vay 8.000.000 đồng và cho B vay 7.000.000 đồng. Tưởng thu của các bị cáo đánh bạc số tiền khoảng 400.000 đồng - 500.000 đồng. Đến khoảng 23h30' cùng ngày, khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang. Quá trình điều tra vụ án đã xác định số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 44.450.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
Vì vậy, hành vi của Nguyễn Quang T đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Hưng L1, Tạ Duy B, Nguyễn Quang T3, Trịnh Đắc S đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo nêu trên theo các tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ và đúng pháp luật.
Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự, trị an xã hội nên cần xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Đối với bị cáo Nguyễn Quang T, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “lần đầu phạm tội”, đây là các tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Trong đồng phạm về tội Đánh bạc, đây thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thống nhất và cùng tích cực thực hiện hành vi, Hội đồng xét xử đánh giá vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và số tiền dùng đánh bạc, số tiền thu trên chiếu bạc của mỗi bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định và cá thể hóa hình phạt đối với từng bị cáo trong vụ án như sau:
Bị cáo B tham gia đánh bạc với số tiền 18.050.000 đồng, bị cáo S tham gia đánh bạc với số tiền 17.000.000 đồng, bị cáo L1 tham gia đánh bạc với số tiền 17.100.000 đồng, bị cáo T3 tham gia đánh bạc với số tiền 5.300.000 đồng.
Các bị cáo đều “phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đều “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, các bị cáo đều có “nhân thân tốt”, bị cáo S có nhiều giấy khen trong quá trình công tác, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Căn cứ nhân thân của các bị cáo, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, yếu tố lỗi và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phân tích trên và xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy, việc áp dụng hình phạt tù giam, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội là không cần thiết, mà cho các bị cáo được cải tạo tại nơi cư trú dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo được mục đích của hình phạt, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng:
- + Trả lại cho bị cáo Trịnh Đắc S 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh đen là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hưng L1 01 điện thoại nhãn Iphone 12 Promax màu xanh, là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang T 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi MI 11 Lite màu đen và số tiền 1.100.000 đồng, là tài sản riêng của của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Trả lại cho bị cáo Tạ Duy B 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.
- + Tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài chắn mỗi bộ có 100 quân bài, 01 đĩa sứ hình tròn có hình hoa hồng và 01 khay nhựa màu trắng loại nắp nhựa đựng bánh kẹo, 01 thảm ngồi màu xám có kích thước (2x2)m, đều là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại các điểm a và c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu sung công nhà nước số tiền 39.000.000 đồng thu trên chiếu bạc; số tiền thu trên người các bị cáo được sử dụng vào mục đích đánh bạc, cụ thể: 50.000 đồng thu của bị cáo B, 2.100.000 đồng thu của bị cáo L1, 1.000.000 đồng thu của bị cáo S, 2.300.000 đồng thu của bị cáo T3.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Các bị cáo Tạ Duy B, Trịnh Đắc S, Nguyễn Hưng L1, Nguyễn Quang T3 phạm tội “Đánh bạc”.
-
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Tạ Duy B 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hưng L1 14 (Mười bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 28 (Hai mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Đắc S 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T3 10 (Mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Quang T, Tạ Duy B, Nguyễn Hưng L1, Trịnh Đắc S, Nguyễn Quang T3 cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- + Trả lại cho bị cáo Trịnh Đắc S 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A71 màu xanh đen, số IMEI 1: 353408117419018, số IMEI 2: 353409117419016, đã qua sử dụng bên trong lắp 01 thẻ sim.
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hưng L1 01 điện thoại nhãn Iphone 12 Promax màu xanh, bản 256GB, có số IMEI 1: 352850794307043, số IMEI 2: 352850794560047, đã qua sử dụng bên trong lắp 01 thẻ sim có seri 89840200011142442407 (máy bật nguồn không lên, không kiểm tra chất lượng, tình trạng hoạt động của máy khi bàn giao).
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang T 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi MI 11 Lite màu đen 128GB, có mẫu M2101K9AG đã qua sử dụng bên trong lắp 01 thẻ sim có seri 8401190312219597WD (máy bật nguồn không lên, không kiểm tra chất lượng, tình trạng hoạt động của máy khi bàn giao)
- + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang T số tiền 1.100.000 đồng.
- + Trả lại cho bị cáo Tạ Duy B 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu vàng, bản 128GB, có số IMEI 1: 358863667716327, số IMEI 2: 358863667847973, đã qua sử dụng bên trong lắp 01 thẻ sim có seri 8984048000380092832 (máy bật nguồn không lên, không kiểm tra chất lượng, tình trạng hoạt động của máy khi bàn giao).
- + Tịch thu tiêu huỷ 02 bộ bài chắn mỗi bộ có 100 quân bài, 01 đĩa sứ hình tròn có hình hoa hồng, 01 khay nhựa màu trắng loại nắp nhựa đựng bánh kẹo, 01 thảm màu xám có kích thước (2x2)m.
- + Tịch thu sung công nhà nước số tiền 44.450.000 đồng.
(Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, TP Hà Nội theo Quyết định chuyển vật chứng số 31/QĐ-VKS ngày 26/3/2024 của VKSND huyện Hoài Đức và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/4/2024 giữa Công an huyện H, TP . Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, TP . Hà Nội; Uỷ nhiệm chi ngày 02/4/2024 của Kho bạc Nhà nước H4).
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Lan Anh |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 65/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 65/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Tưởng và Đồng phạm
