|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày: 23-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hà Văn Tôn
- Ông Nguyễn Văn Kỳ
Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Man Anh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19 tháng 3 năm 1996, tại tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi thường trú: tổ dân phố V, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Trần Thị X (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 12/6/2013 bị Công an thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khoẻ của người khác” tại Quyết định số 54/QĐ-XPHC.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biên pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Nguyễn Văn B (tên gọi khác: Không), sinh ngày 11 tháng 8 năm 1997, tại Hà Nội; Nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 và bà Phùng Thị T1; có vợ là Bàn Thị P và 01 con sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 15/9/2021 bị Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khoẻ của người khác” tại Quyết định số 99092/QĐ-XPHC.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: Anh Trần Văn D, sinh năm: 1992; địa chỉ: tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Hà Văn T2, sinh năm: 1973; địa chỉ: tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Dương Tùng L1, sinh năm: 2000; địa chỉ: tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Việt H, sinh năm: 2000; địa chỉ: tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Trần Văn N, sinh năm: 1991; địa chỉ: tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Ngô Văn T3, sinh năm: 1995; địa chỉ: thôn Q, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
- Ông Trần Văn D1, sinh năm: 1974; địa chỉ: tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 07 tháng 6 năm 2023, Nguyễn Văn B rủ Nguyễn Văn C đến quán B1 thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để uống bia thì được C đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, B đi đến quán bia trước thì gặp một nhóm người đang ngồi uống bia, trong đó có Trần Văn D (sinh năm 1992, trú tại: Tổ dân phố M, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên). Thấy B đi đến quán D2 có mời B vào uống bia cùng nhưng Bằng không uống nên D có lời nói xúc phạm Bằng sau đó giữa B và D có xảy ra cãi chửi nhau. Bằng đi ra ngoài gọi điện cho C và nói đến đây đang có chuyện, nghe B nói vậy trên đường đi C có rẽ qua quán K ở tổ dân phố G, phường H, thành phố P lấy 01 cây gậy bóng chày rồi đi đến quán. Khi nhìn thấy C đến, B liền quay lại quán rồi đi vào chỗ bàn D đang ngồi uống bia, B hỏi Du tại sao lại chửi B. Thấy D có lời nói và thái độ không tôn trọng nên B cầm 01 chiếc cốc uống bia bằng thủy tinh trên mặt bàn đập một cái vào vùng đầu của D. Thấy vậy mọi người xung quanh chạy đến can ngăn, kéo B ra thì D cầm 01 chiếc cốc uống bia ném về phía Bằng nhưng không trúng. Lúc này C đứng ngoài thấy B đánh D nên đã ra xe ô tô lấy cây gậy bóng chày mang theo lao vào vụt nhiều cái vào người D, khi C dùng gậy bóng chày đánh D thì B tiếp tục cầm cốc thuỷ tinh đánh vào đầu của D. Bị B và C dồn đánh, D cầm 01 chiếc ghế nhựa ở quán dơ lên đỡ và cầm một chiếc bát sứ trên bàn định ném C thì bị B dùng tay ôm kéo D lại nên D đã dùng bát sứ đánh một cái vào vùng đầu của B, còn B thì cầm ghế nhựa vụt vào đầu D, sau đó được mọi người ở quán can ngăn thì sự việc chấm dứt.
Hậu quả: Trần Văn D và Nguyễn Văn B bị thương chảy nhiều máu, D được đưa đến sơ cứu và điều trị tại bệnh viện C2, đến ngày 20/06/2023 thì ra viện, còn B được đưa đến sơ cứu và điều trị tại bệnh viện Đ, P, Thái Nguyên đến ngày 13/06/2023 thì ra viện. Ngay sau khi xảy ra sự việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, phát hiện thu giữ: 02 mẫu vật chất màu nâu đỏ tại 02 vị trí trên hiện trường (niêm phong ký hiệu M1 và M2); 01 chiếc cốc thủy tinh bị vỡ; 05 mảnh bát sứ vỡ không rõ hình dạng, được niêm trong hộp cát tông (ký hiệu CBV); 02 chiếc ghế nhựa màu nâu nhãn hiệu Việt N1 bị gãy vỡ, ghế cũ đã qua sử dụng, được niêm phong dán kín bằng bao tải (ký hiệu GNV). Quá trình giải quyết, Cơ quan điều tra còn tạm giữ: 01 cây gậy bóng chày màu đen, dài 70cm, trên gậy có ký hiệu “BAT”, gậy cũ đã qua sử dụng, được niêm phong dán kín bằng giấy trắng (ký hiệu GBC); 01 thẻ nhớ màu đen loại 32GB bên trong lưu dữ hình ảnh vụ việc, được niêm phong (ký hiệu A).
Tại bản Kết luận giám định số 6565/KL-KTHS ngày 11/10/2023 của V, Bộ C3 kết luận: Mẫu vật chất màu nâu đỏ ghi là máu thu tại hiện trường (ký hiệu M1) là máu người và là máu của Trần Văn D. Mẫu vật chất màu nâu đỏ ghi là máu thu tại hiện trường (ký hiệu M2) là máu người và là máu của Nguyễn Văn B.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 760/KLTTCT-TTPY ngày 08/9/2023 của Trung tâm Pháp y Sở y tế, tỉnh Thái Nguyên kết luận: Trần Văn D bị chảy máu dưới nhện, hiện tại có 03 sẹo phần mềm vùng mặt KT nhỏ và 04 sẹo phần mềm KT nhỏ. Căn cứ Thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn D tại thời điểm giám định là 19%, cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật có góc cạnh sắc và vật tày.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 771/KLTTCT-TTPY ngày 22/9/2023 của Trung tâm Pháp y Sở y tế, tỉnh Thái Nguyên kết luận: Các kết quả chính: Nguyễn Văn B hiện tại có 01 sẹo vết thương phần mềm KT nhỏ. Căn cứ Thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn B tại thời điểm giám định là 1%, cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày.
Vật chứng của vụ án: 01 thẻ nhớ màu đen nhãn hiệu KB Vision 32GB, niêm phong (ký hiệu TN) được lưu chuyển theo hồ sơ vụ án; 01 chiếc cốc thủy tinh bị vỡ; 05 mảnh bát sứ vỡ không rõ hình dạng (niêm trong hộp cát tống ký hiệu CBV); 02 chiếc ghế nhựa màu nâu, bị gẫy, vỡ, nhãn hiệu Việt N2, ghế cũ đã qua sử dụng (niêm phong dán kín bằng bao tải ký hiệu GNV); 01 cây gậy bóng chày màu đen, dài 70cm, trên gậy có ký hiệu “BAT”, gậy cũ đã qua sử dụng (niêm phong dán kín bằng giấy trắng ký hiệu GBC). Toàn bộ số vật chứng này được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn B đã tự nguyện bồi thường cho Trần Văn D số tiền 30.000.000 đồng. Trần Văn D đã nhận khoản tiền trên và không còn yêu cầu gì, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho C và B.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSPY ngày 22/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi gây thương tích cho bị hại như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị hại xác định đã được bồi thường số tiền 30.000.000 đồng và không yêu cầu giải quyết về phần dân sự. Về hình phạt, bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn B, mỗi bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu giải quyết về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật chứng.
Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị áp dụng Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Buộc Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định.
Các bị cáo, bị hại đều không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin lỗi bị hại và đều xin được hưởng mức án thấp nhất để có cơ hội hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 07/06/2023, tại quán B1 thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Xuất phát từ việc trước đó Trần Văn D có lời nói xúc phạm nên Nguyễn Văn C đã có hành vi dùng 01 cây gậy bóng chày bằng kim loại cùng Nguyễn Văn B dùng cốc thuỷ tinh và ghế nhựa đánh gây tổn thương cơ thể cho anh Trần Văn D với tỷ lệ là 19% thương tích.
Các bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích là 19% cho bị hại. Do đó, hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự.
“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) Dùng ... hung khí nguy hiểm...;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này...”.
Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, trong đó Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn B đều giữ vai trò là người thực hành, trực tiếp dùng hung khí gây thương tích với anh Trần Văn D nên phải chịu trách nhiệm như nhau đối với toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.
[3] Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
- Về nhân thân: Trước khi bị đưa ra xét xử trong vụ án này, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn B đều từng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi Xâm hại sức khoẻ của người khác.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện bồi thường xong cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do vậy, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, trị an xã hội. Các bị cáo từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Xâm hại sức khoẻ của người khác, tuy đã chấp hành xong các quyết định xử phạt nhưng lần phạm tội này có tính chất mức độ thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo, cần xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù giam để giáo dục, cải tạo các bị cáo và đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, các bị cáo tuổi đời còn trẻ, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị hại có một phần lỗi dẫn đến xô sát nên Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc áp dụng hình phạt phù hợp, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo, sớm trở về với gia đình, xã hội để làm lại cuộc đời.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên là phù hợp nên được chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng trong vụ án đều là công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo đã liên đới bồi thường xong cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí và chi phí tố tụng: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với hành vi của Trần Văn D đã dùng bát sứ đánh vào đầu Nguyễn Văn B gây tổn thương cơ thể cho Bằng 1%. Quá trình điều tra xác định D gây thương tích cho B trong lúc bị B và C liên tục tấn công dẫn đến trạng thái tinh thần của D bị kích động mạnh, hơn nữa sau khi sự việc xảy ra Bằng không có yêu cầu hay đề nghị gì về hành vi của D. Do đó hành vi của Trần Văn D không cấu thành tội phạm hình sự, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an thành phố P xử phạt hành chính là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 47; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 106; Điều 123; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố:
1. Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn B và Nguyễn Văn C thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 chiếc cốc thuỷ tinh bị vỡ và 05 mảnh sứ vỡ của bát không rõ hình dạng (niêm phong trong hộp cattong ký hiệu CVB); 02 chiếc ghế nhựa màu nâu, bị gẫy, vỡ, nhãn hiệu Việt N2, ghế cũ đã qua sử dụng (niêm phong, dán kín bằng bao tải ký hiệu GNV); 01 chiếc gậy bóng chày màu đen, dài 70cm, trên gậy có ký hiệu “BAT”, gậy cũ đã qua sử dụng (niêm phong dán kín bằng giấy trắng ký hiệu GBC).
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19 tháng 01 năm 2024 giữa Công an thành phố P và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên.
5. Về án phí sơ thẩm: Buộc Nguyễn Văn B và Nguyễn Văn C, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Xuân Lộc |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (tội cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
