|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/DS - ST Ngày: 23/4/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 – TP. HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Thủy Tiên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
2. bà Đinh Kim Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 4
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên
Trong ngày 23 tháng 4 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 4, Tp. xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 153/2023/TLST- DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 212a/2024/QÐST – DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212b/2024/QĐXX - ST ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Trụ sở: 2 N, Phường V, Quận C, Tp.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Thân Lê N – giấy ủy quyền số 1098/2023/UQ-TGĐ ngày 26/7/2023
ĐCLL: 278 N, Phường V, Quận C, Tp.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1976
Địa chỉ: 3 T, Phường A, Quận D, Tp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/5/2023, bản tự khai và các biên bản làm việc tiếp sau đó, Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có ông Thân Lê N là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 16/5/2016, bà H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng JCB (số thẻ 356480 – 0982) với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 152.476.563 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 169.217.461 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà H vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 01/12/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 7.783.450 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.9%/tháng (= Lãi suất trong hạn 2.6%/tháng x 150%) (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Vào ngày 20/04/2022, bà H có thanh toán thêm 6.639.361 đồng, nên dư nợ gốc còn lại là 883.450 đồng. Tính đến ngày 23/4/2024, bà H còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc: 883.450 đồng; Lãi quá hạn: 5.953.370 đồng. Tổng cộng 6.836.820 đồng. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với Bà H, yêu cầu bà H có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bà H trả nợ, tuy nhiên bà H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, đề nghị buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 23/4/2024 là 6.836.820 đồng, bà Nguyễn Thị Thu H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 24/4/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân đương sự Nguyễn Thị Thu H có trách nhiệm trả khoản nợ, không yêu cầu đưa thêm người vào tham gia tố tụng.
Bị đơn Nguyễn Thị Thu H đã được tống đạt thông báo thụ lý, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đương sự vắng mặt không có lý do, không có văn bản có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa nên Tòa không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận D “ Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1990, có HKTT tại 3 T, Phường A, Quận D. Hiện không thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ”
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; phía bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H vắng mặt lần thứ hai, không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Việc Tòa án thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung của vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H trả tiền nợ vay tín dụng. Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng J (số thẻ 356480 – 0982), các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng ngày 16/5/2016, thì có cơ sở xác định giữa nguyên đơn Ngân hàng và bà H đã xác lập quan hệ tín dụng. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà H trả số tiền nợ gồm nợ gốc và lãi chậm trả đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Đồng thời, căn cứ vào kết quả xác minh của Công an P1, Quận D. Theo đơn khởi kiện, thì người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của bị đơn nhưng bị đơn không có nơi cư trú ổn định, thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú...thì Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân Quận 4 có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn có mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Xét, đề nghị của nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bà H có trách nhiệm trả khoản nợ không yêu cầu đưa thêm người vào tham gia tố tụng là tự nguyện và không trái pháp luật nên chấp nhận.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Đối với số tiền nợ gốc và lãi: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng JCB (số thẻ 356480 – 0982) của Ngân hàng ngày 16/5/2016 do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bà H có quan hệ cấp tín dụng hình thức thẻ tín dụng, hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 152.476.563 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 169.217.461 đồng. Tính đến ngày 23/4/2024, bà H còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc: 883.450 đồng; Lãi quá hạn: 5.953.370 đồng. Tổng cộng 6.836.820 đồng. Ngân hàng yêu cầu bà H thanh toán toàn bộ khoản tiền trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng, việc Ngân hàng yêu cầu bà H trả số tiền nợ gốc và nợ lãi là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 341.841 đồng (ba trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm bốn mươi mốt đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 147; Điều 203, Điều 220, Điều 227 và khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Điều 468 Bộ luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2017;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
Buộc bà Nguyễn Thị Thu H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ tạm tính đến ngày 23/4/2024, bà H còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc: 883.450 đồng; Lãi quá hạn: 5.953.370 đồng. Tổng cộng 6.836.820 đồng. Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng ngày 16/5/2016.
Thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 24/4/2024 trở đi bà H còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo quy định tại Hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Thu H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 341.841 đồng (ba trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm bốn mươi mốt đồng)
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017955 ngày 14/6/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 4.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TANDTp. HCM; - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Quận 4; - Chi cục THADS Quận 4; - Lưu VP – HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Thị Thủy Tiên |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Hồ Thị Thủy Tiên |
Bản án số 65/2024/DS - ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 65/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín Trụ sở: 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Tp. HCM Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Thân Lê Nguyên – giấy ủy quyền số 1098/2023/UQ-TGĐ ngày 26/7/2023 ĐCLL: 278 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, sinh năm 1976 Địa chỉ: 307/48 Tôn Đản, Phường 15, Quận 4, Tp. Hồ Chí Minh
