Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÌN HỒ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HSST

Ngày: 22/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng; Bà Lò Thị Yến.

Thư ký phiên toà: Ông Phùng Trung Sơn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Lò Trí Siêu, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST- HS, ngày 09 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST –HS, ngày 8 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Thị X - Sinh năm: 1961; sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: khu phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Hoàng Lao P – đã chết; Con bà: Chẻo Thoa M – đã chết; Bị cáo có chồng là Vàng Hồ L đã chết; bị cáo có 02 người con, Con lớn nhất, sinh năm 1986, con nhỏ nhất, sinh năm: 1991; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2024 đến nay - Có mặt tại phiên tòa.
  2. Hoàng Cân L1 (Tên gọi khác: Hoàng Câu L) - Sinh năm: 1995; sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: bản Sìn Hồ V, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nơi ở hiện nay: bản N, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Hoàng Pề G – Sinh năm: 1971; Con bà: Lý Thị T – Sinh năm: 1977; Bị cáo chưa có vợ, con. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/3/2024 đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Cân L1: Ông Trần Văn H – Luật sư, cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L – Có mặt.

* Người làm chứng: Anh Lò Văn Q, sinh năm: 1995; Trú tại: bản P, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 ngày 07/3/2024, tại khu vực trợ Trung tâm huyện S, tại khu phố E, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu, Hoàng Thị X đã mua được 01 gói Heroine của một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 40 tuổi với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được H1, X đem về nhà cất giấu trong buồng ngủ của X. Đến khoảng 18 giờ 00 phút ngày 10/3/2024, X đang ở nhà thì có Hoàng Cân L1, đến hỏi mua Heroine. Qua trao đổi mua bán H2, X lấy gói Heroine mua được ngày 07/3/2024 chia ra bán cho L1 01 gói với giá 500.000 đồng. Mua được H1, L1 gói lại bằng mảnh ni lon màu hồng đem về nhà cất giấu với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sáng ngày 13/3/2024, L1 lấy gói Heroine mua được của Xuấn chia làm 02 phần và gói lại mỗi phần bằng mảnh ni lon màu hồng. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, L1 đang ở nhà thì có Lò Văn Q, trú tại: bản P, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu đến hỏi mua Heroine, qua trao đổi về việc mua bán H1, Q và L1 đi ra khu vực giáp danh giữa nhà L1 và nhà ông N để giao địch mua bán Heroine, tại đây L1 đã bán cho Q 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Mua được H1, Lò Văn Q đi ra hiên nhà ông N sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện S phát hiện, bắt quả tang thu giữ của Q 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém. Q khai nhận Heroine Q1 sử dụng là do Q1 mua của Hoàng Cân L1. Cơ quan điều tra đã tiến hành bắt giữ Hoàng Cân L1, tại đây Hoàng Cân L1 đã giao nộp số tiền 200.000 đồng và 01 gói bột khô, màu trắng, theo lời khai của L1 số tiền 200.000 đồng là tiền bán Heroine cho Lò Văn Q và 01 gói bột khô, màu trắng là Heroine của L1, L1 tàng trữ để sử dụng và bán lẻ kiếm lời, đồng thời khai số Heroine bán cho Q và số Heroine bị thu giữ là Lìn mua của Hoàng Thị X, tại khu phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu. Căn cứ lời khai của Hoàng Cân L1, Cơ quan Điều tra đã tiến hành điều tra và khám xét nơi ở của Hoàng Thị X, quá trình khám xét đã phát hiện, thu giữ của Hoàng Thị X 01 cục bột khô, màu trắng; 01 mảnh giấy bạc đã bị cháy xém; 01 mảnh giấy màu trắng, Hoàng thị X1 khai nhận cục bột khô, màu trắng thu giữ là Heroine của X1, X1 tàng trữ để sử dụng và bán kiếm lời.

Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định tư pháp số: 122, ngày 13/3/2024 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 01 gói chất bột, màu trắng thu giữ của Hoàng Cân L1 có khối lượng là 0,06 gam; Tại bản Kết luận giám định số: 307/GĐ-KTHS, ngày 19/9/2023, của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Hoàng Cân L1 gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine. Tại kết luận giám định tư pháp số: 121, ngày 13/3/2024 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 01 gói chất bột, màu trắng thu giữ của Hoàng Thị X có khối lượng là 0,03 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 308/GĐ-KTHS, ngày 13/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Hoàng Thị X gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine. Tại bản Kết luận giám định số: 602/GĐ-KTHS, ngày 24/5/2024, của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu tiền 200.000 đồng, có mã số hiệu ZL 19384514 gửi đến giám định là tiền thật.

Cáo trạng số: 41/CT- VKS, ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo Hoàng Thị X và Hoàng Cân L1 về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 BLHS.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Cân L1 và Hoàng Thị X phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Đề nghị áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 251 BLHS đối với các bị cáo Hoàng Thị X, Hoàng Cân L1.

Xử phạt bị cáo Hoàng Thị X từ 02 năm 2 tháng tù đến 02 năm 08 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Hoàng Cân L1 từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, vì các bị cáo là người lao động tự do, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành.

Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm Điều 46; khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém; 01 mảnh giấy trắng có nhiều chữ đã gấp đôi; 01 bật lửa ga màu đỏ. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng. Đề nghị truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng đối với Hoàng Thị X (tiền do phạm tội mà có).

Về án phí: áp dụng Điều 135; Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/20016/ UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc Hội khóa 14 về án phí lệ phí. Miễn án 200.000 đồng phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Cân L1; Buộc bị cáo Hoàng Thị X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Cân L1, trình bày luận cứ bào chữa, người bào chữa nhất trí với luận tội và đề nghị của kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251 BLHS và các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Cân L1 mức thấp nhất của khung hình phạt, miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Cân L1.

Tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Thị X và Hoàng Cân L1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án; Bị cáo Hoàng Cân L1 nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung thêm; các bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện S, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[ 2 ] Về hành vi phạm tội của các bị cáo nhận thấy: Vào ngày 07/3/2024, tại khu vực chợ Trung tâm thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu, Hoàng Thị X đã mua được 01 gói Heroine của một người phụ nữ dân tộc Mông với giá 1.000.000 đồng. Mua được H1, X đem về cất giấu. Đến khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 10/3/2024, Hoàng Thị X chia gói Heroine mua được thành 02 gói, bán cho Hoàng C Lìn 01 gói với giá 500.000 đồng, gói còn lại X cất giấu. Sau khi mua được Heroine Hoàng Cân L1 đem về chia nhỏ 02 phần và gói mỗi phần bằng mảnh ni lon màu hồng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 13/3/2024, Hoàng Cân L1 bán cho Lò Văn Q 01 gói với giá 200.000 đồng, khi Q đang sử dụng Heroine thì bị tổ công tác Công an huyện S phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Q 01 bật lửa ga và 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém (số Heroine của Q mua của L1, Q đã sử dụng hết) và tại đây đã thu giữ của Hoàng C Lìn 01 gói Heroine còn lại có khối lượng 0,06 gam, số Heroine này Lìn tàng trữ để sử dụng và bán kiếm lời. Quá trình khám xét tại nhà Hoàng Thị X còn thu giữ 0,03 gam Heroine còn lại; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy xém, 01 mảnh giấy trắng. Đối với 0,03 gam Heroine thu giữ của X có chung nguồn gốc với số Heroine bán cho Hoàng Cân L1, X tàng trữ với mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời.

Như vậy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của các bị cáo Hoàng Thị X và Hoàng Cân L1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 BLHS.

Do đó, Cáo trạng trạ số: 41/CT- VKS, ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo Hoàng Thị X và Hoàng Cân L1 về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nhận thấy, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức rõ việc mua bán Heroine là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi, nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện, các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của Hoàng Thị X và Hoàng Cân L1 thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Ma túy là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh nông thôn, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với các bị cáo để dăn đe, giáo dục đối với các bị cáo và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, đều chưa có tiền án, tiền sự. Đối với Hoàng Thị X, tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2005/HSST, ngày 14/6/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu đã xử phạt đối với bị cáo 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 30/8/2010, Hoàng Thị X được đặc xá theo quyết định số 1406/QĐ-CTN, ngày 24/8/2010 của Chủ tịch nước, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đương nhiên xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho các bị cáo; các bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được đi học, nhận thức pháp luật còn có những hạn chế nhất định, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho các bị cáo.

[ 4 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, các bị cáo đều là lao động tự do, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Trong vụ án này, theo lời khai của Hoàng Thị X, số Heroine bán cho Hoàng Cân L1 và số Heroine thu giữ khi khám xét khẩn cấp là do X mua của một người phụ nữ dân tộc Mông tại chợ T huyện S, tỉnh Lai Châu, nhưng X không rõ nhân thân lai lịch, nên không thể điều tra xử lý được đối với người này. Đối với hành vi mua Heroine của Lò Văn Q, Q mua với mục đích để sử dụng, Q đã sử dụng hết, cơ quan điều tra đã xử lý hành chính đối với Q là đúng quy định pháp luật.

[ 5 ] Về vật chứng: Đối với 02 mảnh giấy bạc đã bị cháy xém; 01 mảnh giấy trắng có nhiều chức đã gấp đôi; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội cần phải tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Hoàng Cân L1, đây là tiền do phạm tội mà có cần phải tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 500.000 đồng Hoàng Thị X bán Heroine cho Hoàng Cân L1 (X đã tiêu sài hết), đây là tiền do phạm tội mà có cần phải truy thu đối với Hoàng Thị X để sung công quỹ Nhà nước.

[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy, bị cáo Hoàng Cân L1 là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Cân L1. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Hoàng Thị X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sơ thẩm.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên và ý kiến đề nghị của người bào chữa là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần phải chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Áp dụng Điều 38; điểm a,b khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1 Điều 251 BLHS và điểm a,b khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với các bị cáo Hoàng Thị X và Hoàng Cân L1. Áp điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo Hoàng Cân L1; Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đối với bị cáo Hoàng Thị X.

  1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Thị XHoàng Cân L1 (Tên gọi khác: Hoàng Câu L) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

    Xử phạt bị cáo Hoàng Thị X 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 13/3/2024.

    Xử phạt bị cáo Hoàng C Lìn 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 13/3/2024.

  2. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 mảnh giấy bạc đã bị cháy xém; 01 mảnh giấy trắng có nhiều chữ đã gấp đôi; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ.
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Hoàng Cân L1. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ngày 16/7/2024).
    • - Truy thu số tiền 500.000 đồng đối với Hoàng Thị X để sung công quỹ Nhà nước.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Cân L1. Buộc bị cáo Hoàng Thị X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, có mặt các bị cáo, các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Công an huyện Sìn Hồ;
  • - VKSND huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án hình sự CA huyện Sìn Hồ;
  • - Thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

 

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HSST ngày 22/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 65/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 07/3/2024 công an huyện Sìn Hồ phát hiện bắt quả tang Hoàng Thị X\ và Hoàng cân L có hành vi mua bán trái phép Heroine
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger