Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21/8/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp

nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Cát Tưởng
  2. Bà Mai Thị Tiếp

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Chi - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 252/2024/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 112/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị N - Sinh năm 1973

HKTT: Phố 1, phường Long Anh, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở: SN 06/196 Trần Hưng Đạo, phường Nam Ngạn, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Ông Trần Văn M - Sinh năm 1958.

HKTT: Phố 1, phường Long Anh, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở: SN 06/196 Trần Hưng Đạo, phường Nam Ngạn, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt chị N, vắng mặt ông M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, ý kiến tại phiên toà bà Lê Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Trần Văn M kết hôn với nhau năm 2003 trên cơ sở tự nguyện, tổ chức cưới, đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông M có lối sống gia trưởng, ghen tuông vô cớ, thiếu quan tâm chăm sóc, tôn trọng và còn đánh đập chị. Vì thương con bà đã nhiều cố gắng bỏ qua nhưng nhiều năm qua ông M không thay đổi, mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Mặc dù đang sống cùng một nhà nhưng từ 2017 đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Trần Văn M.

Về con chung: Bà và ông Trần Văn M có 02 con chung, cháu Trần Lê Minh T – Sinh ngày 26/8/2004 và cháu Trần Lê Thanh T1 – Sinh ngày 13/8/2009. Ly hôn bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Còn cháu T đã thành niên ở với ai là quyền của cháu, bà không yêu cầu toà án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về phía ông Trần Văn M: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông M không có mặt.

- Cung cấp của chính quyền địa phương:

Hiện tại bà Lê Thị N, ông Trần Văn M đang cư trú tại S T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa do phố T quản lý. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau tại địa phương có nhiều mâu thuẫn, nhưng mâu thuẫn cụ thể như thế nào khu phố không biết vì vợ chồng không báo với phố. Nay bà N làm đơn xin ly hôn phố đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng quay về đoàn tụ, nếu bà N cương quyết xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung, vợ chồng có 02 con chung cháu Trần Lê Minh T và cháu Trần Lê Thanh T1. Đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật. về tài sản chung vợ chồng có những gì khu phố không biết.

Tại phiên tòa bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông M vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đại diện VKS phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS để xét xử. Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lê Thị N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị N khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Trần Văn M cư trú tại thành phố T, nên Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Trần Văn M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng ông M không có mặt để làm bản tự khai, vắng mặt tại phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa; nên căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử.

[2] Về hôn nhân: Bà Lê Thị N, ông Trần Văn M kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà N thấy rằng: Hôn nhân muốn tồn tại trước hết vợ chồng phải thương yêu, tin tưởng nhau và có trách nhiệm với nhau cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Qua xem xét lời khai của bà N cho thấy, sau khi kết hôn ông, bà đã có thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian đó chỉ tồn tại được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông M thiếu quan tâm vợ con và gia đình, từ đó mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Thu thập chứng cứ tại địa phương thể hiện trong thời gian vợ chồng chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nhưng vì vợ chồng không báo cáo nên khu phố không hoà giải. Mặt khác sau khi thụ lý vụ án đến thời điểm này dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng ông M đã không đến Tòa án để làm việc, không tham gia phiên hòa giải. Điều đó cho thấy ông M không có ý thức níu kéo lại hạnh phúc gia đình mà mặc nhiên để bà N đơn phương ly hôn.

Từ sự phân tích như trên có đủ cơ sở xác định, tình trạng mâu thuẫn giữa bà Lê Thị N, ông Trần Văn M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà N xử cho bà được ly hôn ông Trần Văn M

[3] Về con chung: Bà Lê Thị N, ông Trần Văn M có 02 con chung, cháu Trần Lê Minh T – Sinh ngày 26/8/2004 và cháu Trần Lê Thanh T1 – Sinh ngày 13/8/2009. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai bà N xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và không yêu cầu ông M phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con của bà N là chính đáng, bởi bà có việc làm, có thu nhập, nguyện vọng của cháu T1 xin ở với mẹ. Do đó căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu T1 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp. Còn cháu T đã thành niên ở với ai là quyền của cháu, bà N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản: Bà N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bà Lê Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27, khoản 1. 1 Điều 1 phần I, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án

Về hôn nhân:

Xử cho bà Lê Thị N được ly hôn ông Trần Văn M.

Về con chung:

Công nhận cháu Trần Lê Minh T – Sinh ngày 26/8/2004 và cháu Trần Lê Thanh T1 – Sinh ngày 13/8/2009 là con chung của bà Lê Thị N, ông Trần Văn M.

Giao cháu Thanh T1 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Còn cháu T đã thành niên ở với ai là quyền của cháu.

Ông Trần Văn M có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản, công nợ:

Tòa án không xem xét giải quyết.

Án phí:

Bà Lê Thị N phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001520 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa (bà N đã nộp đủ tiền án phí).

Bà Lê Thị N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Trần Văn M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPTH;
  • - THA DS TP.Thanh Hoá;
  • - UBND phường Ba Đình,
  • TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger