Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 65/2024/HSST

Ngày 21-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài

Ông Vũ Công Sế

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 03/6/2024, đối với bị cáo:

1. Hồ Ngọc S, sinh năm 1990 tại Bình Thuận; nơi cư trú: thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Cha: Hồ Ngọc S1, sinh năm 1964; Mẹ: Lê Thị Q, sinh năm 1968; Vợ, con: không; Tiền sự: không;

Tiền án:

  • - Bản án số 37/2011/HSST ngày 25/4/2011 Tòa án nhân dân thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  • - Bản án số 87/2018/HSST ngày 21/11/2018 Tòa án nhân dân thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đến ngày 23/4/2021 đã chấp hành xong án phạt tù.

Nhân thân: Bản án số 156/2006/HSST ngày 01/9/2006 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp tài sản”

Bị cáo bị bắt ngày 27/12/2023 (có mặt).

2. Nguyễn Lâm Tân T, sinh năm 1993 tại Bình Thuận; thường trú: Khu phố A, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; chổ ở: ấp H, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Cha: Nguyễn Văn M, sinh năm 1965; Mẹ: Lâm Thị Xuân T1, sinh năm 1968; Vợ: Vũ Thị M1, sinh năm 1996 và có 01 con sinh năm 2018;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt ngày 27/12/2023 (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo S, T: Luật sư Nguyễn Bá Đ – Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Tấn V, sinh năm 1972. Địa chỉ: thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 01 giờ 25 phút ngày 27/12/2023, Đội CSĐTTP về HS-KT-MT Công an huyện X phối hợp với lực lượng Phòng PC08 Công an tỉnh B đi tuần tra. Khi đi đến ấp B và ấp B, xã B, huyện X, tổ công tác đã phát hiện, bắt quả tang Hồ Ngọc S và Nguyễn Lâm Tân T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:

  • + 01 gói thuốc JET bên trong có chứa 03 gói nylon chứa chất kết tinh không màu trong suốt;
  • + 01 gói nylon chứa chất kết tinh không màu trong suốt;
  • + 01 xe mô tô Honda vision, màu đỏ-đen, biển số: 86B6-387.64;
  • + 02 điện thoại di động.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hồ Ngọc S tại thôn P, xã T, T. Lagi, tỉnh Bình Thuận, không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận:

Hồ Ngọc S và Nguyễn Lâm Tân T có mối quan hệ bạn bè, cả hai đều là các đối tượng nghiện ma túy dạng đá. Để có ma túy sử dụng và tiền tiêu xài S và T đã mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Cụ thể:

Vào tối ngày 26/12/2023, S và T đang ở nhà L thuộc ấp P, xã T, T. Lagi, tỉnh Bình Thuận thì có 01 người đàn ông tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại cho S để hỏi mua một gói ma túy đá “300 số”; S quay qua hỏi T, một gói ma túy đá “300 số” có giá bao nhiêu? T nói giá khoảng 14.000.000 đồng. Sau đó, S gọi lại cho P thông báo số tiền như trên, P đồng ý mua. Hai bên thỏa thuận sẽ thực hiện giao dịch mua bán ma túy tại khu vực xã B. Do thấy S gọi cho một số người quen để hỏi mua ma túy đá nhưng không được nên T đã liên hệ với một người tên Tí B (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 300 số ma túy đá, người này đồng ý bán cho T với giá 12.500 đồng và hẹn giao ma túy tại khu vực thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Khi T thỏa thuận xong với Tí B thì S lấy xe mô tô biển kiểm soát 86B6-387.64 điều khiển chở T đi đến điểm hẹn nêu trên để mua bán ma túy. Tại điểm hẹn, Tí B đeo khẩu trang, đội nón kết chạy xe mô tô (không nhớ biển số) và đưa cho T 01 gói thuốc Jet bên trong có chứa ma túy đá, S đưa cho Tí B số tiền 4.000.000đ là tiền S mượn của Tí Bàng trước đó vào khoảng đầu tháng 12/2023, còn tiền mua ma túy lần này thì S nói sẽ trả sau, Tí B đồng ý. Sau đó, S tiếp tục điều khiển xe máy chở theo T đi giao ma túy đá cho P theo như thỏa thuận. Khi đến khu vực đường nông thôn thuộc ấp B, xã B, huyện X, S nói T ném gói thuốc lá hiệu Jet, bên trong có chứa ma túy đá xuống đường để đợi P ra lấy. T thực hiện theo yêu cầu của S còn S tiếp tục điều khiển xe máy chạy được khoảng 05m thì thấy lực lượng Công an. Do còn ma túy trên người nên sợ bị phát hiện, S đã nói Tiến móc trong túi quần phải của S ra 01 gói ma túy đá để ném xuống đường. S và T bỏ chạy đến hướng dốc Biên phòng xã B thì bị lực lượng công an dừng phương tiện, yêu cầu S, T đến vị trí ném ma túy để lấy ma túy giao nộp cho cơ quan công an.

Về nguồn gốc gói ma túy đá mà S cất giấu trong túi quần của S, S khai nhận: vào ngày 25/12/2023, Hồ Ngọc S mua 01 gói ma túy đá của người đàn ông tên Q1 (không rõ nhân thân,lai lịch) nhà ở thị xã L, tỉnh Bình Thuận với giá 1.300.000 đồng với mục đích sử dụng và có ai mua thì bán. Vào tối ngày 26/12/2023, S mang theo gói ma túy đá nêu trên, cất giấu trong túi quần bên phải cùng T đến nhà một người đàn ông tên L ở địa chỉ như đã nêu trên. Tuy nhiên, T không biết việc S cất giấu ma túy trong người, khi được S nhờ lấy gói ma túy đó ném xuống đường thì T mới biết.

Lời khai của Hồ Ngọc S và Nguyễn Lâm Tân T phù hợp với nhau, phù hợp với diễn biến của vụ án.

Bản kết luận giám định số: 72/KL-KTHS-MT ngày 30 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • - Một phong bì màu trắng được niêm phong số thứ tự 01 (kí hiệu mẫu A1) có khối lượng 30,1172 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
  • - Một phong bì màu trắng được niêm phong số thứ tự 02 (kí hiệu mẫu A2) có khối lượng 4,1196 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Căn cứ kết quả thu giữ tang vật và các Kết luận giám định, xác định khối lượng ma túy các Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự như sau:

Bị cáo Hồ Ngọc S: 34,2368 gam ma tuý, loại Methamphetamine.

Bị cáo Nguyên Lâm Tân T: 30,1172 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

*Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và việc xử lý vật chứng:

Việc thu giữ vật chứng:

  • - 02 phong bì niêm phong vụ số 72/1, 72/2 ngày 30/12/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B có chứa chất ma túy còn lại sau giám định.
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ-đen, biển số 86B6-38764, số khung: 583XTY044055; số máy: JF86E2044069;
  • - 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đen, số IMEI: 355039101586013;
  • - 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đen, tình trạng đã qua sử dụng (hiện không hoạt động được).
  • - 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET.

Xử lý vật chứng: không

Số vật chứng nêu trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC04), Công an tỉnh B chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bảo quản, chờ xử lý theo Bản án.

Đối với các đối tượng: Tí Bàng, Q1 là người bán ma túy cho S, T; P là người mua ma túy của S. Do S2, T chỉ biết những người này thông qua bạn bè ngoài xã hội giới thiệu nên không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể của các đối tượng. Do đó, Cơ quan điều tra chưa có căn cứ để xác minh; Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý Tí B, Q1 và P theo đúng quy định pháp luật.

Bản cáo trạng số 85/CT-VKS-P2 ngày 22-5-2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Lâm Tân T về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Lâm Tân T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Hồ Ngọc S từ 16 đến 17 năm tù;

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Lâm Tân T từ 15 đến 16 năm tù.

Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

- Luật sư Nguyễn Bá Đ phát biểu bào chữa cho các bị cáo: Luật sư thống nhất về tội danh và điều luật truy tố các bị cáo.

Đề nghị xem xét bị cáo S phạm tội không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm do bản án gần nhất xử phạt 03 năm tù, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 23/4/2021. Tính đến này phạm tội 27/12/2023 là đã quá 02 năm nên đương nhiên được xóa án tích. Bị cáo S mắc bệnh hiểm nghèo, bị HIV nên đề nghị xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS giảm hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo T tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức không đáng kể, bị cáo có con còn nhỏ nên đề nghị xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

- Các bị cáo S, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ được tại hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Hồ Ngọc S và Nguyễn Lâm Tân T có mối quan hệ bạn bè, cả hai đều là các đối tượng nghiện ma túy dạng đá, để có ma túy sử dụng và tiền tiêu xài Hồ Ngọc S và Nguyễn Lâm Tân T đã cùng nhau mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời.

Vào tối ngày 26/12/2023, tại địa bàn thị xã L, tỉnh Bình Thuận, S cùng T đã mua 30,1172 gam, là ma túy, loại Methamphetamine với giá 12.500.000 đồng của người đàn ông tên Tý B1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để bán cho người đàn ông tên P (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 14.000.000 đồng. Đến khoảng 01 giờ 25 phút ngày 27/12/2023, S và T mang theo toàn bộ số ma túy đã mua được để trong vỏ bao thuốc lá hiệu Jet và đi đến điểm hẹn để giao ma túy cho P. Khi đến đoạn đường thuộc khu vực ấp B và ấp B, xã B, huyện X yêu cầu T ném gói ma túy xuống vệ đường để đợi Phệ đến lấy thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang.

Ngoài ra, vào ngày 25/12/2023, S mua 4,1196 gam, là ma túy, loại Methamphetamine với giá 1.300.000 đồng của người đàn ông tên Q1 nhà ở thị xã L, tỉnh Bình Thuận với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Số ma túy này S cũng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang cùng với khối lượng ma túy nêu trên.

Theo Kết luận giám định thì Hồ Ngọc S phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số 34,2368 gam ma tuý, loại Methamphetamine; Nguyễn Lâm Tân T phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số 30,1172 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Do vậy, hành vi bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Lâm Tân T thực hiện đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự đúng như quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân của nhiều tội phạm liên quan đến ma túy, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người đã trưởng thành nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì để có tiền tiêu xài vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.

Các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm, thuộc trường hợp đồng phạm. Bị cáo S là người chủ mưu, khởi xướng và trực tiếp liên hệ, thực hiện mua bán ma túy nên cần xử lý nghiêm khắc hơn. Bị cáo T là người thực hành tích cực, giúp sức cho S mua và cùng nhau đi bán ma túy nên cũng cần xử lý tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng:

Bị cáo S phạm tội nhiều lần, đã phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, chưa xóa án tích mà lại cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội này được xác định là phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm nguy hiểm thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 73 BLHS về cách tính thời hạn xóa án tích thì thời hạn xóa án tích đối với hình phạt 08 năm tù tại Bản án số 37/2011/HSST được tính lại từ ngày chấp hành xong hình phạt của bản án số 87/2018/HSST. Do vậy, trình bày của luật sư bào chữa cho rằng bị cáo S đã được đương nhiên xóa án tích là không có cơ sở để chấp nhận.

Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 02 phong bì niêm phong vụ số 72/1, 72/2 ngày 30/12/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B có chứa chất ma túy còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đen, tình trạng đã qua sử dụng (hiện không hoạt động được); 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đen, số IMEI: 355039101586013; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET do liên quan đến hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ-đen, biển số 86B6-38764, số khung: 583XTY044055; số máy: JF86E2044069 là tài sản của ông Lê Tấn V1 không liên quan đến vụ án nên trả lại cho ông Lê Tấn V1;

[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Lâm Tân T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt: Hồ Ngọc S 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2023.
  • - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt: N (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2023.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong vụ số 72/1, 72/2 ngày 30/12/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B có chứa chất ma túy còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đen, tình trạng đã qua sử dụng (hiện không hoạt động được); 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu đen, số IMEI: 355039101586013; 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET
  • - Trả cho ông Lê Tấn V1 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ-đen, biển số 86B6-38764, số khung: 583XTY044055; số máy: JF86E2044069;

Các vật chứng trên được quản lý tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo biên bản giao nhận vật chứng số 73/BB-CTHADS ngày 23/5/2024.

3. Án phí:

Bị cáo Hồ Ngọc S, Nguyễn Lâm Tân T mỗi bị cáo phải phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Cục THADS tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Bị cáo; người bào chữa;
  • - Lưu: Tòa Hình sự, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HSST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 65/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Ngọc S Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger