Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 21-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Giáp Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Xuân Chung
  2. Bà Đỗ Thị Hoài Mơ

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trương Văn T, sinh năm 1984. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán dìu; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Trương Văn X, sinh năm 1935 (đã chết); Mẹ đẻ: Lê Thị L, sinh năm 1947; Vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1984; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 15/12/2013 đến ngày 22/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú", hiện tại ngoại (có mặt).

  1. Họ và tên: Nguyễn Hữu H, sinh năm 1984. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Nguyễn Hữu X1, sinh năm 1962; Mẹ đẻ: Hoàng Thị T1, sinh năm 1962; Vợ: Lý Thị M, sinh năm 1986; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Nhân thân: Ngày 15/6/2021 bị Công an huyện L xử phạt hành chính về hành vi “Trồng cây thuốc phiên”, mức phạt 3.500.000 đồng. Ngày 15/6/2021 H đã chấp hành xong.

Bị can bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 15/12/2022 đến ngày 22/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú", hiện tại ngoại (có mặt).

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1994. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1972; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1970; Vợ: Nguyễn Thị Yến C, sinh năm 2001; Con: có 01 con, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 15/12/2022 đến ngày 22/12/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú", hiện tại ngoại (có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện L, Bắc Giang.

  • - Chị Lý Thị M, sinh năm 1986 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện L, Bắc Giang.

  • - Chị Nguyễn Thị Yến C, sinh năm 2001 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện L, Bắc Giang.

* Người chứng kiến:

  • Ông Vi Văn U, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, L, Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 10 phút ngày 15/12/2023 tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn T, xã trường G, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Công an huyện L phối hợp với Công an xã T, huyện L tuần tra kiểm soát phát hiện bắt giữ đối tượng Nguyễn Văn L1 đang có hành vi tàng trữ hàng cấm (nghi là pháo nổ).

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) thùng cát tông bên trong đựng 10 cuộn tròn (nghi pháo nổ) có đặc điểm giống nhau, từng cuộn gồm nhiều vật thể hình trụ tròn cuộn giấy màu đỏ, một đầu bịt kín, một đầu có dây dẫn, kết tràng và cuộn tròn, bên ngoài cuốn túi nilon màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 98F1- 455.97; 01 điện thoại Iphone X màu trắng đen và số tiền 3.060.000 đồng. Cùng ngày Cơ quan CSĐT Công an huyện L khám xét nơi ở của Nguyễn Văn L1 nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Khi bị bắt Nguyễn Văn L1 khai nhận số pháo trên do L1 mua của Nguyễn Hữu H. Căn cứ vào lời khai của L1, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H, kết quả không phát hiện thu giữ được đồ vật tài liệu gì có liên quan. Quá trình làm việc thu giữ của H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 99C1-415.04 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HONOR 90 Lite màu xanh. H khai nhận nguồn gốc pháo bán cho L1 do H mua của Trương Văn T ở cùng thôn với H.

Căn cứ vào lời khai của H, Cơ quan CSĐT Công an huyện L khám xét khẩn cấp nơi ở của T. Kết quả khám xét thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 98H6-8012; 20 cuộn giấy hình trụ tròn, màu đỏ, rỗng giữa, mỗi cuộn có chiều dài 55 cm; Nhiều sợi dây dẫn (ngòi dẫn) màu trắng bạc; 08 lọ keo 502, 24 lọ keo dán giấy, 03 phong túi linon đựng đầu nhỏ keo 502; 01 bao dứa đựng nhiều vật hình trụ tròn, cuốn bằng giấy màu đỏ, rỗng giữa, chiều dài 4,7 cm, đường kính 2,4 cm, có khối lượng 05 kg; 22 vật thể bằng giấy cuộn tròn màu đỏ, rỗng giữa, một đầu hở, một đầu hàn kín gắn ngòi dẫn, chiều dài 4,7 cm, đường kính 2,4 cm; 03 cuộn nilon màu trắng (nilon bọc thực phẩm), 01 con dao bài, 01 chiếc kéo bằng kim loại; 01 túi nilon màu xanh lục, bên ngoài bám dính bụi đen, bên trong đựng 01 túi nilon màu đỏ, bên trong túi nilon màu đỏ đựng chất bột màu đen (nghi thuốc pháo) và 01 chiếc thìa bằng kim loại; 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus màu đen.

Tại cơ quan điều tra Trương Văn T khai nhận: Từ khoảng tháng 7/2023 T bắt đầu mua nguyên liệu để tự sản xuất thủ công pháo nổ, T mới chỉ làm ra được 10 mét pháo nổ, là số pháo đã bán cho H. Còn lại các nguyên vật liệu để ở nhà chưa kịp làm thì đã bị thu giữ.

Tại Bản kết luận giám định số 2492/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B (vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn L1), kết luận: 10 (mười) khối, bên ngoài mỗi khối đều được bọc ni lon màu trắng, bên trong mỗi khối gồm các vật nhỏ hình trụ được cuốn bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, trong đó một đầu có gắn dây ngòi được liên kết với nhau tạo thành tràng (10 tràng) đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 12,4 kg (mười hai phẩy bốn ki lô gam).

Tại Bản kết luận giám định số 2493/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B (vật chứng thu giữ khi khám xét nơi ở của Trương Văn T), Kết luận:

  • + 01 túi nilon màu xanh lục, bên ngoài bám dính bụi đen, bên trong đựng 01 túi nilon màu đỏ, trong mẫu chất bột màu đen có tìm thấy thành phần Kali clorat (KCLO3) và Các bon (C). Khối lượng của mẫu chất bột màu đen là 0,15 kg (không phẩy mười năm ki lô gam). Các chất Kali clorat (KCLO3) và Các bon (C) thường được dùng là nguyên liệu để sản xuất thuốc pháo nổ.
  • + Các vật hình trụ tròn, cuốn bằng giấy màu đỏ, rỗng giữa, kích thước trung bình (4,7 x 2,4) cm đều là pháo nổ tự chế chưa hoàn chỉnh (bên trong không có thuốc pháo). Tổng khối lượng của các vật hình trụ 5,0 kg (năm phẩy không ki lô gam).
  • + Các sợi dây dẫn màu trắng bạc đều là dây ngòi pháo, có tổng khởi lượng 0,026 kg. (không phẩy không hai sáu ki lô gam).
  • + 08 (tám) lọ keo nhãn hiệu “502” đều là lọ keo dán nhãn hiệu “502” không chwuas thành phần nguyên liệu chế tạo thuốc pháo nổ.
  • + 22 (hai mươi hai) vật hình trụ tròn, quấn bằng giấy màu đỏ, rỗng giữa, một đầu hở, một đầu được bịt kín gắn dây dẫn, kích thước trung bình (4,7x2,4)cm đều là pháo nổ tự chế chưa hoàn chỉnh (bên trong không có thuốc pháo). Tổng khối lượng là 0,37 kg (không phẩy ba bẩy ki lô gam).

Quá trình điều tra các bị can khai nhận: Khoảng tháng 7/2023, Trương Văn T đã truy cập vào mạng Internet đọc, tìm hiểu cách thức làm pháo nổ, mục đích để sản xuất pháo nổ bán và đốt vào dịp Tết Nguyên Đán Giáp Thìn 2024. T tự đặt mua các nguyên liệu để sản xuất ra pháo nổ gồm: giấy cuộn màu đỏ, giấy này đã được cuộn ép nhiều lớp hình trụ tròn, rỗng giữa, đường kính trung bình là 2,4 cm; thuốc pháo, dây ngòi pháo, keo dán 502, keo dán giấy, dao, kéo. Cách thức sản xuất pháo nổ (sản xuất thủ công): từ cuộn giấy hình trụ tròn, T dùng dao cắt, chia thành nhiều khối pháo hình trụ tròn, có chiều dài trung bình 4,7 cm, đường kính trung bình 2,4 cm. Dây ngòi pháo, T tẩm thuốc pháo làm ngòi dẫn nổ. Từ khối pháo, 01 đầu rỗng T đưa dây ngòi pháo vào trong rồi bịt kín đầu lại bằng keo dán 502, để hở ngòi pháo ra ngoài (đầu quả pháo). T làm đồng loạt, tạo ra nhiều quả pháo mới có đầu dây ngòi. Đợi đầu dây ngòi khô keo (đầu quả pháo) thì T dồn thuốc pháo vào đầu rỗng còn lại (đuôi quả pháo) và dùng cát phủ kín miệng lỗ rồi nhỏ keo 502 vào để bịt kín. Sau khi hoàn thành nhiều quả pháo, T tự bện ngòi pháo kết thành tràng có chiều dài 01 mét và cuộn tròn lại. Sau đó dùng túi nilon bọc thực phẩm cuốn quanh cuộn pháo. Mỗi cuộn pháo, T chia có chiều dài là 01 mét để bán cho khách tính theo đơn vị mét.

Khoảng 09 giờ ngày 14/12/2023, H gọi điện cho T hỏi mua 10 mét pháo nổ của T. T đồng ý bán và bảo 10 mét pháo có giá là 4.000.000 đồng. H đồng ý mua và bảo T mang pháo đến giao cho H. Sau đó, T xếp 10 cuộn pháo (mỗi cuộn pháo dài 01 mét, 10 cuộn pháo có chiều dài tương ứng là 10 mét) vào trong 01 thùng cát tông và che phủ bao dứa lên trên rồi dán băng dính. Sau đó, T đặt thùng cát tông đựng pháo lên yên xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha 98H6-8012 và chằng dây chun cố định, sau đó điều khiển xe mô tô chở thùng pháo đến giao cho H. H nhận thùng cát tông đựng 10 cuộn pháo do T bán và cất giấu trong nhà. Do là bạn bè chơi với nhau nên H bảo nợ tiền mua pháo và T đồng ý. Đến khoảng 19 giờ ngày 14/12/2023, L1 hỏi H để mua 10 mét pháo. Do là bạn bè chơi thân với nhau nên H bán lại cho L1 10 mét pháo mới mua được của T với giá 4.000.000 đồng. L1 đồng ý và hẹn H đến sáng ngày 15/12/2023 thì mang pháo đến kho xe thuộc nhà xe A ở thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giao pháo cho L1 (nơi L1 làm việc). Khoảng 09 giờ ngày 15/12/2023, H sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 99C1- 415.04 chở 01 thùng cát tông, bên trong đựng 10 mét pháo nổ được chia thành 10 cuộn, mỗi cuộn pháo nổ dài 01 mét đến kho xe thuộc nhà xe A để giao pháo cho L1. Lanh nhận pháo của H và bảo thanh toán tiền sau và được H đồng ý rồi H đi về nhà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, L1 lấy thùng cát tông đựng pháo vừa mua của H buộc lên yên xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 98F1- 455.97 để chở pháo về nhà. Khi đi trên đường liên thôn thuộc thôn T, xã T, huyện L thì bị Công an huyện L phối hợp với Công an xã T, huyện L kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng với tang vật vừa kể trên tại nơi Công an huyện L làm việc.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trương Văn T, Nguyễn Hữu HNguyễn Văn L1 đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, được coi là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn L1 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

- Vật chứng, đồ vật thu giữ gồm: 01 (một) thùng cát tông bên trong đựng 10 cuộn tròn (nghi pháo nổ) có đặc điểm giống nhau, từng cuộn gồm nhiều vật thể hình trụ tròn cuộn giấy màu đỏ, một đầu bịt kín, một đầu có dây dẫn, kết tràng và cuộn tròn, bên ngoài cuốn túi nilon màu trắng (sau khi giám định nhận hoàn lại 10 kg pháo nổ đựng trong thùng cát tông); 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 98F1-455.97; 01 điện thoại Iphone X màu trắng đen; số tiền 3.060.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 98H6-8012; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 99C1-415.04 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu HONOR 90 Lite màu xanh; 20 cuộn giấy hình trụ tròn, màu đỏ, rỗng giữa, mỗi cuộn có chiều dài 55 cm; Nhiều sợi dây dẫn (ngòi dẫn) màu trắng bạc; 08 lọ keo 502, 24 lọ keo dán giấy, 03 phong túi linon đựng đầu nhỏ keo 502; 01 bao tải dứa đựng nhiều vật hình trụ tròn, cuốn bằng giấy màu đỏ, rỗng giữa, chiều dài 4,7 cm, đường kính 2,4 cm, có khối lượng 05 kg; 22 vật thể bằng giấy cuộn tròn màu đỏ, rỗng giữa, một đầu hở, một đầu hàn kín gắn ngòi dẫn, chiều dài 4,7 cm, đường kính 2,4 cm; 03 cuộn nilon màu trắng (nilon bọc thực phẩm), 01 con dao bài, 01 chiếc kéo bằng kim loại; 01 túi nilon màu xanh lục, bên ngoài bám dính bụi đen, bên trong đựng 01 túi nilon màu đỏ, bên trong túi nilon màu đỏ đựng chất bột màu đen (là nguyên liệu để sản xuất thuốc pháo nổ) và 01 chiếc thìa bằng kim loại; 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus màu đen. Hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn L1, Nguyễn Hữu HTrần Văn T4 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 11 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố các bị cáo Trương Văn T đã phạm vào tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”, Nguyễn Hữu H đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 190 Bộ luật Hình sự, Nguyễn Văn L1 đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

  • - Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Bị cáo Trương Văn T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”, Nguyễn Hữu H phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 190 Bộ luật Hình sự.
  • Bị cáo Nguyễn Văn L1 phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt:

  • Bị cáo Trương Văn T: Từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng;
  • Bị cáo Nguyễn Hữu H: Từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 đến 36 tháng;
  • Bị cáo Nguyễn Văn L1: Từ 9 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng.

Về hình phạt bổ sung:

  • Bị cáo T, H: Mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng;
  • Bị cáo L1: Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thùng cát tông bên trong đựng 10 cuộn tròn (nghi pháo nổ) có đặc điểm giống nhau, từng cuộn gồm nhiều vật thể hình trụ tròn cuộn giấy màu đỏ, một đầu bịt kín, một đầu có dây dẫn, kết tràng và cuộn tròn, bên ngoài cuốn túi nilon màu trắng (sau khi giám định nhận hoàn lại 10 kg pháo nổ đựng trong thùng cát tông); 20 cuộn giấy hình trụ tròn, màu đỏ, rỗng giữa, mỗi cuộn có chiều dài 55 cm; Nhiều sợi dây dẫn (ngòi dẫn) màu trắng bạc; 08 lọ keo 502, 24 lọ keo dán giấy, 03 phong túi linon đựng đầu nhỏ keo 502; 01 bao tải dứa đựng nhiều vật hình trụ tròn, cuốn bằng giấy màu đỏ, rỗng giữa, chiều dài 4,7 cm, đường kính 2,4 cm, có khối lượng 05 kg; 22 vật thể bằng giấy cuộn tròn màu đỏ, rỗng giữa, một đầu hở, một đầu hàn kín gắn ngòi dẫn, chiều dài 4,7 cm, đường kính 2,4 cm; 03 cuộn nilon màu trắng (nilon bọc thực phẩm), 01 con dao bài, 01 chiếc kéo bằng kim loại; 01 túi nilon màu xanh lục, bên ngoài bám dính bụi đen, bên trong đựng 01 túi nilon màu đỏ, bên trong túi nilon màu đỏ đựng chất bột màu đen (là nguyên liệu để sản xuất thuốc pháo nổ);
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 98F1-455.97; 01 điện thoại Iphone X màu trắng đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 98H6-8012; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 99C1-415.04; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR 90 Lite màu xanh; 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen (theo quyết định chuyển vật chứng ngày 11/4/2024).
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L1 số tiền 3.060.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lý Thị M, Nguyễn Thị Yến C đều trình bày: Các chị không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về xe mô tô bị thu giữ là tài sản của vợ chồng, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

- Bị cáo T, H, L1 đều trình bày: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo bị khởi tố, truy tố về các tội danh theo điểm, khoản, Điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan; các bị cáo đều nhất trí với quan điểm của đại diện VKSND huyện Lục Nam, không có ý kiến tranh luận gì; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị N và người chứng kiến ông Vi Văn U vắng mặt, tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của người này, việc vắng mặt của những người này không gây cản trở cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về tội danh: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo T, H, L1 luôn thành khẩn khai báo, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng tháng 7/2023, Trương Văn T đã truy cập vào mạng Internet đọc, tìm hiểu, học cách thức làm pháo nổ rồi mua thuốc pháo và nguyên liệu về để sản xuất pháo nổ thành phẩm bán kiếm lời. Khoảng 09 giờ ngày 14/12/2023, T đã làm được 10 cuộn pháo, mỗi cuộn dài 01 mét. Ngày 14/12/2023, T đã bán cho Nguyễn Hữu H 10 cuộn pháo với giá 4.000.000 đồng; sau khi mua được số pháo trên H đem về nhà thì Nguyễn Văn L1 gọi điện thoại hỏi mua 10 mét pháo, H đồng ý và đã chở pháo đến giao cho L1 tại nơi Lanh làm việc ở thôn T, xã P, huyện L. Khoảng 10 giờ ngày 15/112/2023 L1 lấy thùng cát tông đựng số pháo vừa mua của H buộc lên yên xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 98F1- 455.97 để chở pháo về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn T, xã T, huyện L thì bị Công an huyện L phối hợp với Công an xã T kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng 12,4 kg pháo nổ.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong sản xuất một số loại hàng cấm, cụ thể là pháo nổ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xét xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; đều có đóng góp cho chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát năm 2024 tại địa phương nơi mình cư trú. Bị cáo Nguyễn Hữu H có thời gian tham gia công tác trong Quân đội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn L1 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét thấy, bị cáo T đã có hành vi “sản xuất, buôn bán hàng cấm”; Bị cáo H có hành vi “Buôn bán hàng cấm”; Bị cáo L1 có hành vi “Tàng trữ hàng cấm”, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh và trong quản lý, tàng trữ, vận chuyển một số loại hàng cấm; hành vi buôn bán hàng cấm nhằm thu lợi bất chính, những hành vi này gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung:

  • - Xét thấy bị cáo T, H có hành vi buôn bán hàng cấm (Pháo) nhằm thu lợi bất chính, nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, mức phạt: Mỗi bị cáo là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
  • - Bị cáo L1 mặc dù không buôn bán pháo với mục đích thu lợi bất chính, nhưng việc mua pháo để nhằm mục đích sử dụng vào dịp Tết trong khi đây là hành vi Nhà nước cấm. Do vậy, cần thiết phải phạt bổ sung với hình thức phạt tiền mức phạt là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) là phù hợp quy định pháp luật.

[7] Xét tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, trên cơ sở xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam cũng đảm bảo giáo dục, răn đe. Đồng thời tạo điều kiện cho các bị cáo tự cải tạo trở thành công dân tốt, người có ích cho xã hội.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Các vật chứng là công cụ, phương tiện liên quan hành vi phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy, gồm: 01 (một) thùng cát tông bên trong đựng 10 cuộn tròn (nghi pháo nổ) có đặc điểm giống nhau, từng cuộn gồm nhiều vật thể hình trụ tròn cuộn giấy màu đỏ, một đầu bịt kín, một đầu có dây dẫn, kết tràng và cuộn tròn, bên ngoài cuốn túi nilon màu trắng (sau khi giám định nhận hoàn lại 10 kg pháo nổ đựng trong thùng cát tông); 20 cuộn giấy hình trụ tròn, màu đỏ, rỗng giữa, mỗi cuộn có chiều dài 55 cm; Nhiều sợi dây dẫn (ngòi dẫn) màu trắng bạc; 08 lọ keo 502, 24 lọ keo dán giấy, 03 phong túi linon đựng đầu nhỏ keo 502; 01 bao tải dứa đựng nhiều vật hình trụ tròn, cuốn bằng giấy màu đỏ, rỗng giữa, chiều dài 4,7 cm, đường kính 2,4 cm, có khối lượng 05 kg; 22 vật thể bằng giấy cuộn tròn màu đỏ, rỗng giữa, một đầu hở, một đầu hàn kín gắn ngòi dẫn, chiều dài 4,7 cm, đường kính 2,4 cm; 03 cuộn nilon màu trắng (nilon bọc thực phẩm), 01 con dao bài, 01 chiếc kéo bằng kim loại; 01 túi nilon màu xanh lục, bên ngoài bám dính bụi đen, bên trong đựng 01 túi nilon màu đỏ, bên trong túi nilon màu đỏ đựng chất bột màu đen (là nguyên liệu để sản xuất thuốc pháo nổ);
  • - Đối với xe mô tô và điện thoại, các bị cáo sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội, là công cụ, phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung công quỹ nhà nước, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 98F1-455.97; 01 điện thoại Iphone X màu trắng đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 98H6-8012; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 99C1-415.04; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR 90 Lite màu xanh; 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen (theo quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKD ngày 11/4/2024).
  • - Đối với số tiền thu giữ của bị cáo L1, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã làm rõ đây là tiền cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo có đề nghị được nhận lại số tiền này. Do đó, cần trả lại cho bị cáo L1 số tiền 3.060.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trương Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/6/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/6/2024.

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L1 10 (mười) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/6/2024.

Áp dụng khoản 3 Điều 35, khoản 4 Điều 190 Bộ luật hình sự: Phạt tiền bị cáo Trương Văn T mức phạt 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng); Phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu H mức phạt 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước. Phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn L1 mức phạt 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.

Giao bị cáo Trương Văn T, Nguyễn Hữu H cho UBND xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Văn L1 cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  1. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thùng cát tông bên trong đựng 10 cuộn tròn (nghi pháo nổ) có đặc điểm giống nhau, từng cuộn gồm nhiều vật thể hình trụ tròn cuộn giấy màu đỏ, một đầu bịt kín, một đầu có dây dẫn, kết tràng và cuộn tròn, bên ngoài cuốn túi nilon màu trắng (sau khi giám định nhận hoàn lại 10 kg pháo nổ đựng trong thùng cát tông); 20 cuộn giấy hình trụ tròn, màu đỏ, rỗng giữa, mỗi cuộn có chiều dài 55 cm; Nhiều sợi dây dẫn (ngòi dẫn) màu trắng bạc; 08 lọ keo 502, 24 lọ keo dán giấy, 03 phong túi linon đựng đầu nhỏ keo 502; 01 bao tải dứa đựng nhiều vật hình trụ tròn, cuốn bằng giấy màu đỏ, rỗng giữa, chiều dài 4,7 cm, đường kính 2,4 cm, có khối lượng 05 kg; 22 vật thể bằng giấy cuộn tròn màu đỏ, rỗng giữa, một đầu hở, một đầu hàn kín gắn ngòi dẫn, chiều dài 4,7 cm, đường kính 2,4 cm; 03 cuộn nilon màu trắng (nilon bọc thực phẩm), 01 con dao bài, 01 chiếc kéo bằng kim loại; 01 túi nilon màu xanh lục, bên ngoài bám dính bụi đen, bên trong đựng 01 túi nilon màu đỏ, bên trong túi nilon màu đỏ đựng chất bột màu đen (là nguyên liệu để sản xuất thuốc pháo nổ);
  • - Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 98F1-455.97; 01 điện thoại Iphone X màu trắng đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 98H6-8012; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 99C1-415.04; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HONOR 90 Lite màu xanh; 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen (Theo quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKS ngày 11/4/2024).
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L1 số tiền 3.060.000 đồng (Ba triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Trương Văn T, Nguyễn Hữu H, Nguyễn Văn L1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Lục Nam;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam;
  • - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - UBND xã Quý Sơn, huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã Trường Giang, huyện Lục Nam;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Giáp Thị Loan

cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đỗ Thị Mai Lan

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự sơ thẩm về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm và Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T và đồng phạm - Sản xuất, buôn bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger