|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – BẮC NINH Bản án số:65/2025/HNGĐ-ST Ngày: 16/12/2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị Điệp với anh Thanh |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN – TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tư Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quốc Sửu;
Ông Trần Văn Thiện.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 224/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2025, Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 20/TB-TA ngày 03/12/2025 giữa các đương sự:
-
* Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Đ, sinh năm 1990 (có mặt)
Căn cước công dân số : [...] cấp ngày 15/5/2022
Nơi thường trú: Thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh.
-
* Bị đơn: Anh Dương Văn T, sinh năm 1989 (có mặt)
Căn cước cng dân số: [...] cấp ngày 15/5/2022
Nơi thường trú: Thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Đ trình bày:
Chị và anh Dương Văn T kết hôn ngày 13/01/2012, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã P, tỉnh Bắc Ninh). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh. Đến cuối năm 2012, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, anh T thường xuyên đánh đập chị. Gia đình hai bên đã can ngăn, khuyên bảo anh T nhiều lần nhưng không có kết quả. Đến tháng 7/2025, do mâu thuẫn trầm trọng nên chị và anh T sống ly thân. Từ khi sống ly thân cho đến nay chị và anh T không quan tâm chăm sóc gì cho nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh T.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Dương Thị Thanh H, sinh ngày 01/11/2012 và Dương Anh Đ1, sinh ngày 24/5/2014. Hiện nay cả hai con chung đang ở với anh T. Ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi cả hai con chung, chị yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung với mức 1.000.000 đồng/1 tháng/1 con chung, kể từ khi ly hôn cho đến khi từng con chung đủ 18 tuổi. Chị xác định có đủ điều kiện để nuôi con. Hiện chị đang làm công nhân tại công ty khu công nghiệp V, xã V, tỉnh Bắc Ninh, thu nhập trung bình khoảng 9.000.000 đồng – 10.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị Đ có mặt và trình bày: chị giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn anh T, mong muốn của chị được nuôi cả hai con chung, nếu chị không được nuôi hai con chung thì chị nhận nuôi con Dương Anh Đ1, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 06/11/2025, bị đơn anh Dương Văn T trình bày:
Anh nhất trí với trình bày của chị Đ về ngày tháng kết hôn, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống, con chung. Về mâu thuẫn vợ chồng, anh T trình bày đến khoảng đầu năm 2025, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã. Do mâu thuẫn trầm trọng nên anh và chị Đ sống ly thân khoảng từ tháng 6/2025 cho đến nay. Từ khi sống ly thân cho đến nay anh và chị Đ không quan tâm chăm sóc gì cho nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đồng ý ly hôn chị Đ.
Về con chung: vợ chồng có 02 con chung như chị Đ trình bầy là đúng. Hiện nay cả hai con chung đang ở với anh. Hiện cả hai con chung đều đang phát triển bình thường, đang học tại trường Trung học cơ sở L. Ly hôn anh nhận nuôi cả hai con chung, anh không yêu cầu chị Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tôi đang làm công việc tự do về lĩnh vực xây dựng, thu nhập trung bình khoảng từ 10 triệu đồng – 12 triệu đồng/tháng nên anh xác định có đủ điều kiện nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, anh T có mặt và giữ nguyên trình bầy trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán: thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp, những người tham gia tố tụng đúng, đủ; tiến hành thu thập chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hoà giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử (HĐXX) đảm bảo về thành phần, nguyên tắc xét xử; tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đủ, đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm; Thư ký chấp hành đúng quyền hạn, trách nhiệm theo quy định; Nguyên đơn, bị đơn có ý thức chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, sau khi phân tích, Kiểm sát viên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đ, xử:
Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị Đ và anh Dương Văn T.
Con chung: giao cho chị Hoàng Thị Đ nuôi con chung là Dương Thị Thanh H, sinh ngày 01/11/2012; giao cho anh Dương Văn T nuôi con chung là Dương Anh Đ1, sinh ngày 24/5/2014. Chị Đ và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về án phí: Chị Đ, anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến đề nghị của đương sự, Kiểm sát viên; sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị Đ kết hôn với anh Dương Văn T ngày 13/01/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang (nay là xã P, tỉnh Bắc Ninh) trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau ngay. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm đến nhau, khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thì đã được gia đình hòa giải, khuyên bảo nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 6 năm 2025 cho đến nay. Nay chị Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị xin ly hôn với anh T. Anh T cũng xác định vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nay anh cũng nhất trí ly hôn với chị Đ. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã làm việc với gia đình anh T cũng như chính quyền địa phương thì gia đình anh T và chính quyền địa phương nơi vợ chồng chị Đ, anh T sinh sống đều xác định vợ chồng chị Đ, anh T có xẩy ra mâu thuẫn và vợ chồng đã ly thân từ tháng 06/2025 cho đến nay. Như vậy, vợ chồng chị Đ2 và anh T mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân gia đình để công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đ và anh T.
[2] Về con chung: Chị Đ và anh T có hai là Dương Thị Thanh H, sinh ngày 01/11/2012 và Dương Anh Đ1, sinh ngày 24/5/2014. Hiện nay, cả hai con chung đang được anh T nuôi dưỡng. Ly hôn, cả hai bên đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Đ có nộp sao kê tài khoản do ngân hàng cung cấp, theo đó thu nhập của chị Đ trung bình khoảng 11.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng/ tháng, còn anh T trình bày làm nghề tự do có thu nhập khoảng 10.000.000 đồng - 12.000.000 đồng/tháng. Như vậy, cả hai bên đều đủ điều kiện nuôi con. Hội đồng xét xử thấy, cháu Dương Thị Thanh H là con gái hiện đang học lớp 8, ở độ tuổi vị thành niên, có sự thay đổi rõ rệt về tâm sinh lý và giới tính, rất cần sự quan tâm, chăm sóc gần gũi của người mẹ. Vì vậy, giao cháu H cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, bảo đảm tốt nhất về quyền lợi, tinh thần và sự phát triển của cháu. Đối với cháu Dương Anh Đ1 đang được anh T nuôi dưỡng, xét thấy anh T có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; việc giao cháu Đ1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo sự ổn định của cháu. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung khi giải quyết ly hôn, cần giao cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng con Dương Thị Thanh H, giao cho anh Dương Văn T nuôi con chung Dương Anh Đ1 là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về ấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa các đương sự không yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Đ, anh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Đ, anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị Đ và anh Dương Văn T.
-
Về con chung: giao cho chị Hoàng Thị Đ trực tiếp nuôi con chung Dương Thị Thanh H, sinh ngày 01/11/2012; giao cho anh Dương Văn T trực tiếp nuôi con chung là Dương Anh Đ1, sinh ngày 24/5/2014. Chị Đ, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Sau khi ly hôn, chị Đ, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
-
Về án phí: Chị Hoàng Thị Đ phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001664 ngày 14 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh, hoàn trả chị Đ số tiền 225.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí. Anh Dương Văn T phải chịu 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tư Duy |
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 16/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN – TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN – TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Điệp ly hôn anh Thanh
