Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 01 - 12 - 2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thắng.

Ông Vũ Văn Thôn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Trí Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.

Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lành Thị H, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Lạng Sơn; xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Chung Thanh Q, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường A, thành phố Hải Phòng; xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Chị H và anh Q tự nguyện xây dựng gia đình với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A (nay là phường A), thành phố Hải Phòng, theo giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 30/9/2024.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận đến năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính cách không hợp luôn bất đồng với nhau. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng nên từ tháng 10 năm 2025, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở. Từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không còn liên hệ với nhau. Nay chị H xác nhận: Tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và không còn khả năng đoàn tụ, do vậy chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Chung Thanh P, sinh ngày 29/10/2024, chị H yêu cầu được nuôi con. Việc cấp dưỡng cho con hai bên tự thoả thuận, chị H không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 10/11/2025 bị đơn trình bày: Anh Q thống nhất với chị H về thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, cũng như về con chung. Anh Q xác nhận vợ chồng đã sống ly thân và không còn tình cảm với nhau, nên anh Q đồng ý ly hôn với chị H; về con chung: Anh Q nhất trí giao con chung Chung T, sinh ngày 29/10/2024 cho chị H nuôi dưỡng. Về việc cấp dưỡng cho con hai bên tự thỏa thuận, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung: Anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do công việc cá nhân nên anh Q xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị H có yêu cầu khởi kiện được ly hôn với anh Q có nơi cư trú tại phường A, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối Cao thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.

[2] Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị H và anh Q tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét, chị H và anh Q quá trình chung sống có tính cách không hợp, luôn bất đồng với nhau. Hiện tại, hai người đã sống ly thân, không còn tình cảm với nhau, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị H có yêu cầu ly hôn, anh Q1 cũng đồng ý. Căn cứ vào các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Lành Thị H được ly hôn với anh Chung Thanh Q.

[4] Về con chung: Chị H và anh Q có 01 con chung là Chung Thanh P, sinh ngày 29/10/2024. Chị H yêu cầu được nuôi con, anh Q cũng đồng ý. Xét thấy, chị H là người có việc làm, thu nhập, mặt khác con chung lại dưới 36 tháng tuổi. Do vậy việc giao con chung theo yêu cầu của chị H là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh chăm sóc nuôi dạy con, đảm bảo được quyền lợi của con cũng như quy định của pháp luật. Căn cứ vào các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Giao con chung Chung Thanh P, sinh ngày 29/10/2024 cho chị H nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con, chị H và anh Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị H và anh Q không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lành Thị H được ly hôn với anh Chung Thanh Q.

- Về con chung: Giao con chung Chung Thanh P, sinh ngày 29/10/2024 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con, hai bên không yêu cầu giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Lành Thị H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này chị H đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005615 ngày 03/11/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

- Về quyền kháng cáo: Chị H và anh Q có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND khu vực 2 - Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - Thi hành án dân sự;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường An Dương;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Chỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị H và anh Q.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger