Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

Bản án số: 65/2025/HS-ST

Ngày 17-10-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nam Ninh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Khắc Tân

Ông Khúc Thế Hoài

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đức - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 57/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh ngày 28 tháng 8 năm 1988 tại Quảng Ninh; nơi cư trú: Thôn D, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh (nay là thôn D, xã Đ, tỉnh Quảng Ninh); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Lâm Thị M1; có vợ là Bùi Thu H và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 18/6/2025; có mặt.

- Bị hại:

Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979, nơi thường trú: Thôn M, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là Thôn M, xã Q, thành phố Hải Phòng); vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1982, nơi thường trú: Thôn T, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng (nay là Thôn T, xã A, thành phố Hải Phòng) (đã chết).

· Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Văn K1: Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng (nay là Thôn T, xã A, thành phố Hải Phòng) (là em gái của anh K1); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 36 phút, ngày 11/4/2025, Nguyễn Văn M có bằng lái xe hạng D2 điều khiển xe ô tô BKS: 15F-00719 đi trên đường B, hướng B - V. Khi đến lối mở thứ nhất qua dốc cầu B (đối diện bến xe V) thuộc phường V, quận L (nay là phường A), Hải Phòng, M không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, không đảm bảo khoảng cách với xe chạy liền trước dẫn đến đầu xe ô tô do M điều khiển đã đâm, va vào xe mô tô BKS 16H-8699 chở rau, củ do bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979, nơi thường trú: xã T, huyện T (nay là xã Q), Hải Phòng điều khiển đang lưu thông cùng chiều, phía trước, M tiếp tục đánh tay lái sang phải thì đầu xe ô tô của M tiếp tục đâm, va vào xe mô tô BKS 17H6-5261 do anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1982, nơi thường trú: thôn T, xã B, huyện A (nay là xã A), Hải Phòng điều khiển phía sau kéo theo thiết bị tự chế có giá chở 06 thanh sắt hộp và 02 cuộn tôn thép gồm 18 tấm tôn mái lợp đang dừng, đỗ phía trước. Hậu quả: bà L bị thương tích nhẹ, anh K1 bị thương được đưa vào Bệnh viện V1 cấp cứu, sau đó tử vong cùng ngày, 03 phương tiện bị hư hỏng nặng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: đường B thuộc địa bàn phường V, quận L (nay là phường A), Hải Phòng, đường dài theo hướng Đông-Tây, mặt đường được trải nhựa Asphalt bằng phẳng phân chia thành hai chiều đường riêng biệt bằng giải phân cách cứng ở giữa. Chiều hướng Đ đi hướng vòng xuyến Bguyên G; chiều hướng Tây đi cầu Bùi V; phía Bắc là đường K; phía Nam giáp Nhà máy xử lý nước Hải Phòng. Mỗi chiều đường gồm 03 làn đường: 02 làn trong rộng 2,4m, làn ngoài rộng 2,9m; hai bên chiều đường có làn xe hỗn hợp sát với vỉa hè được ngăn cách với các làn phía trong bằng dải phân cách cứng là các bồn cây làm bằng bê tông rộng trung bình 1,6m, cao 0,33m so với mặt đường. Nơi xảy ra vụ giao thông là điểm mở số 01 đường B, rộng 2,8m là đường đi vào dự án Nhà máy xử lý nước Hải Phòng.

Chọn chiều đường từ cầu B đi vòng xuyến Bùi V - Võ Nguyên G làm chiều hướng khám nghiệm; chọn đầu điểm mở của dải phân cách cứng điểm mở số 01 làm mốc cố định; chọn mép vỉa hè phía trong (phía Nam) làm mép đường chuẩn. Hiện trường vụ tai nạn giao thông để lại được ký hiệu và mô tả như sau:

Vị trí số 01: xe mô tô BKS 16H-8699 ở làn trong cùng bên trái đổ nghiêng phải trên đường, đầu xe hướng Tây (hướng đi cầu Bùi V), đuôi xuôi hướng Đông (hướng đi vòng xuyến B-V). Trục bánh trước cách mốc cố định 7,4m về phía Đông Nam, cách mép đường chuẩn là 13,1m về phía Nam, cách mép đường trong cùng bên trái 3,1m; trục bánh sau cách mốc cố định là 7,1m về phía Đông Nam, cách mép đường chuẩn là 12,9m về phía Đ, cách vị trí số 01 về phía Nam 5,5m là dải phân cách cứng làm bằng bê tông bề mặt phía ngoài trượt xước mất vôi vữa màu trắng, bám dính tạp chất màu đen, rải rác trong diện 6,8m x 0,3m. Nằm dọc theo chiều Đ-Tây, phía trên dải phân cách có 02 thanh kim loại hình hộp chữ nhật sáng màu, kích thước mỗi thanh 6,4cm x 08cm x 04cm, đầu thanh kim loại bị rách, bẹp lõm, bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn), trong diện này có 01 mảnh vỡ nhựa dạng bộ phận của xe ô tô, phía trên có chữ “TRANSIT”. Sát vỉa hè phía Nam, cách vị trí số 01 về phía Nam 12,7m có 01 bó cuộn tôn thép nằm trong diện 300cm x 30cm x 26cm, đầu bị méo, rách kim loại, mặt ngoài tấm kim loại có nhiều đám trượt xước; tương ứng vị trí này trên vỉa hè nằm dọc theo chiều T-Đông có 02 thanh kim loại sáng màu, kích thước mỗi thanh 6,4cm x 08cm x 04cm .

Vị trí số 02: Giá chở hàng tự chế hai bánh, khung bằng kim loại, kích thước trong diện 09m x 09m, bánh xe hình tròn đường kính 0,55m, tâm diện cách mốc cố định 16,4m về phía Đông, cách mép đường chuẩn 6,1m về phía Bắc, bánh xe phía bên trái bị cong gập, gãy kim loại theo hướng từ ngoài vào trong, bề mặt la răng bánh xe bên phải bám dính tạp chất màu xanh dạng sơn.

Vị trí số 03: Xe mô tô BKS 17H6-5261 đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng Đ, đuôi xe hướng T nằm trên mép đường chuẩn, nửa đầu xe trên vỉa hè, nửa sau xe dưới lòng đường; trục bánh trước cách mốc cố định là 25,8m về phía Đông Nam; trục bánh sau cách vị trí số 02 về phía Đông Nam 9,9m. 01 cuộn tôn thép nằm dọc theo chiều Đ-Tây, đầu phía Tây bị bẹp lõm biến dạng, bám dính tạp chất màu xanh dạng sơn; đầu phía Đông bị bẹp lõm biến dạng kim loại, bên trong có một số mảnh vỡ nhựa dạng đèn của phương tiện, rải rác xung quanh cuộn tôn có nhiều đám trượt xước mất sơn kim loại. Sát phía Bắc khu vực này có đám mảnh vỡ nhựa trong diện 1,85m x 05m, tâm diện cách mép đường chuẩn 0,6m dạng phương tiện của ô tô, bề mặt trượt xước có dính tạp chất màu đỏ dạng sơn, ngoài ra còn có một số giá kim loại, mảnh vỡ nhữa có chữ “Ford” nằm trên vỉa hè; phía dưới cuộn tôn có 02 thanh kim loại hình hộp sáng màu kích thước 6,4m x 08cm x 04cm. Trên vỉa hè có nhiều đám rau, củ, quả nằm trong diện 1,6m x 1,1m.

Vị trí số 04: Xe ô tô mang BKS 15F-00719 đang đỗ trên đường, đầu xe hướng Đông (hướng đi vòng xuyền B-V), đuôi xe hướng Tây (hướng đi cầu Bùi V), trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 1,6m; trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn là 1,7m, cách vị trí số 03 về hướng Đông là 66,5m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Xe ô tô BKS 15F-00719: ba đờ xốc phía trước góc bên trái vỡ, khuyết, kích thước 64cm x 40cm; ba đờ xốc phía trước góc bên phải bị vỡ khuyết; đèn pha phía trước bên trái bị vỡ kích thước 20cm x 81cm bám dính nilon bên trong nghi rau, củ, quả; đèn pha phía trước bên phải bị vỡ hoàn toàn. Mặt trước nắp capô góc bên trái; góc bên phải nắp capô bị cong gập bong tróc sơn, kích thước 32cm x 14cm, tâm cách đất 102cm, hướng từ trước về sau, từ trái sang phải; thân xe bên trái có nhiều vết miết xước bám dính tạp chất màu xám trắng dạng bùn đất, kích thước 500cm x 60cm, chiều hướng từ trước về sau, tâm vết cách đất 95cm, cao nhất cách đất 150cm, đuôi vết cao cách đất 90cm, thấp nhất cách đất 54cm. Gương chiếu hậu bên trái bị gãy vỡ rời khỏi vị trí ban đầu, mặt kính bị vỡ rời khỏi vị trí ban đầu, mặt sau bám dính tạp chất màu xám trắng trong diện 41cm x 28cm, chân gương gãy vỡ tâm cách đất 54cm; gương chiếu hậu bên phải bị nứt vỡ, kích thước trong diện 06cm x 03cm, tâm cách đất 117cm. Góc dưới bên phải lưới tản nhiệt bị xô lệch 10cm hướng từ trước về sau, từ trái qua phải, tâm cách đất 75cm. Mặt ngoài khung thân xe bên phải; khung ốp cánh cửa bên phụ; cánh cửa xe lên xuống trầy xước cong gập, mất sơn dài 414cm, đầu vết cao cách đất 53cm, đuôi vết cao cách đất 122,5cm hướng từ trước về sau.

Xe mô tô BKS 16H8-8699: gương chiếu hậu bên phải bị gãy vỡ rời khỏi vị trí ban đầu, chân gương phía trước có vết miết xước kích thước 1,8cm x 0,7cm, tâm diện cách đất 101cm; yếm chắn gió bên phải bị nứt vỡ, kích thước 15cm x 09cm tâm cách đất 72cm; đầu tay nắm điều khiển bên phải có vết miết xước kích thước 03cm x 01cm, tâm vết cách đất 94cm; mặt ngoài chân phanh bên phải có vết miết xước kích thước 03cm x 01 cm, tâm vết cách đất 25cm bám dính tạp chất màu nâu xám nghi là bột đá; đầu cao su giá để chân bên phải của người điều khiển có vết miết xước 02cm x 03cm, tâm vết cách đất 28cm; khung giá hàng bên phải được lắp vào xe bị xô lệch, cong vênh, có vết miết xước 57cm x 60cm, tâm thấp nhất cách đất 25m, cao nhất cách đất 80cm; ốp thân xe, mặt yên bám dính tạp chất màu trắng xám, nghi rau, củ, quả.

Xe mô tô BKS 17H6-5261: toàn bộ vùng đèn pha đầu xe, yếm chắn gió bên phải, trái, yếm chắn bùn, ốp giảm xóc bên phải phía trước, thân xe bên phải, trái, yên xe bị vỡ, rời khỏi vị trí ban đầu. Khung tay cầm điều khiển bị xô lệch hướng từ phải lên, trái xuống, đầu tay nắm trái cao cách đất 70cm, đầu tay nắm phải có vết miết xước bám dính tạp chất dạng bùn đất kích thước 03cm x 02cm, tâm cao cách đất 115cm. Đầu tay phanh bên phải và chân phanh có vết miết xước bám dính tạp chất màu nâu kích thước 13cm x 01cm, tâm một đầu cách đất 110cm, tâm đầu còn lại cách đất 105cm. Chân phanh bên phải ốp sát vào lốc máy, mặt ngoài có vết miết xước, kích thước 04cm x 0,7cm tâm cao cách đất 29cm. Giá để chân bên phải bám dính tạp chất màu đen nghi bùn đất và dầu máy, tâm cao nhất cách đất 29cm. Khung giá đỡ chân người ngồi sau bên phải xô lệch, rời khỏi vị trí ban đầu. Ống xả cong gập hình chữ “V”, đầu ống xả ốp sát vào trục bánh sau bên phải góc chữ “V”, cách đầu ống xả 42cm, mặt ngoài có vết miết xước trên diện 45cm x 04cm, bám dính tạp chất màu nâu, xám đen nghi là bùn đất, tâm cao nhất cách đất 17cm. Giảm xóc bên phải bị gãy rời khỏi vị trí ban đầu, tay dắt phía sau bị cong vênh, xô lệch, hướng phải xuống, trái lên. Khung giá để chân bên trái bị xô lệch hướng từ sau về trước, đầu cao su có vết miết xước trên diện 04cm x 03cm, tâm cách đất cao nhất 23cm, yên xe bị rách, bám dính tạp chất màu nâu dạng bùn đất trên diện 67cm x 18cm.

Cơ quan điều tra Công an thành phố H thu giữ 01 xe mô tô BKS: 16H8-8699; 01 xe mô tô BKS 17H6-5261; 01 xe ô tô BKS 15F-00719; Giấy phép lái xe cùa anh Nguyễn Văn K1, bà Nguyễn Thị L, Nguyễn Văn M; các Đăng ký xe của phương tiện nêu trên; 01 giá chở hàng tự chế; 06 thanh kim loại hình hộp; 02 cuộn tôn thép. Ngoài ra, Cơ quan điều tra thu được 03 đoạn video liên quan đến vụ tai nạn giao thông nêu trên từ Camera hành trình của xe ô tô BKS 15F-00719.

Tại Bản kết luận giám định số 1025/KL-KTHS(PY) ngày 28/4/2025 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: nạn nhân Nguyễn Văn K1 bị bầm tím, xây xước, dập rách da, bờ mép vết thương nham nhở; vỡ hở xương trán; vỡ xương gò má phải; dập xương chính mũi; vùng ngực bầm tím, xây xước da, gẫy xương ức và nhiều xương sườn hai bên làm biến dạng lồng ngực; vỡ hở xương trán, vỡ xương gò má phải, dập xương chính mũi. Các thương tích trên của nạn nhân có đặc điểm hình thành do va đập, cọ xát với vật tày, nguyên nhân chết: do đa chấn thương.

Tại Bản kết luận giám định số 1298/KL-KTHS ngày 12/5/2025 của Phòng K2 Công an thành phố H, kết luận:

  • + Dấu vết dập rách, gãy, vỡ khuyết thủng nhựa, bề mặt phía ngoài bị trượt xước mất sơn màu xanh, bám dính tạp chất màu nâu đỏ (dạng rỉ sét) theo chiều hướng từ trước về sau ở bên phải (bên phụ), cản trước xe ô tô mang BKS 15F-00719 phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại, mất sơn màu đỏ, bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn) theo chiều cùng chiều chuyển động tiến của bánh xe ở mặt ngoài đũa tự chế của bánh xe bên trái giá chở hàng hai bánh tự chế, kéo phía sau xe mô tô mang BKS 17H6- 5261.
  • + Không đủ cơ sở xác định trạng thái va chạm giữa xe ô tô mang BKS 15F-00719 với xe mô tô mang BKS 17H6-5261, kéo giá chở hàng tự chế.
  • + Dấu vết vỡ khuyết nhựa, trượt xước kim loại, mất sơn màu xanh, bám dính tạp chất màu đen và nâu đỏ (dạng sơn và rỉ sét) theo chiều từ trước về sau góc dưới phía ngoài bên trái (bên lái), cản trước xe ô tô mang BKS 15F-00719 phù hợp với dấu vết cong gập kim loại, bung bật rời khỏi vị trí lắp ráp ban đầu, bề mặt phía ngoài bị trượt xước mất sơn và rỉ sét (màu đen và màu nâu đỏ), bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn) theo chiều từ sau về trước ở thanh kim loại phía sau bên phải của giá chở hàng tự chế, gắn sau phía sau xe mô tô mang BKS 16H8- 8699.

+ Không đủ cơ sở xác định trạng thái va chạm giữa xe ô tô mang BKS 15F-00719 với xe mô tô mang BKS 16H8-8699.

+ Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô mang BKS 15F-00719, xe mô tô mang BKS 16H8-8699 và xe mô tô mang BKS 17H6- 5261, kéo giá chở hàng tự chế hai bánh tại thời điểm trước và trong khi xảy ra va chạm.

- Tại Bản kết luận số 1239/KL-KTHS ngày 15/5/2024 của Phòng K3, kết luận: 03 đoạn video không bị cắt ghép, chỉnh sửa,

Tại Kết luận định giá tài sản số 72 ngày 15/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng, kết luận: giá trị thiệt hại của xe ô tô BKS 15F-00819 là 16.400.000 đồng; của xe mô tô BKS 17H6-5261 là 600.000 đồng; của xe mô tô BKS 16H8-8699 là 100.000 đồng; 01 giá hàng tự chế; 06 thanh sắt hộp; 02 cuộn tôn thép là 605.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản trên bị thiệt hại là 17.705.000 đồng.

Tại Công văn số 136 ngày 28/4/2025 của Công ty Cổ phần Đ1 trả lời về tốc độ tối đa cho phép trên đoạn đường xảy ra vụ tai nạn: “...căn cứ vào hệ thống biển báo đường bộ quy định về tốc độ được lắp đặt trên đoạn tuyến, tốc độ tối đa cho phép các phương tiện được di chuyển tại khu vực xảy ra tai nạn giao thông được quy định tại Mục 1, Điều 6 Thông tư số 38/2024/TT-BGTVT ngày 15/11/2024 của Bộ G1 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường bộ, riêng xe tải được lưu thông với tốc độ tối đa 50km/h”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn M khai nhận hành vi như nội dung nêu trên. Ngoài ra, M khai khi đến lối mở thứ nhất chân cầu B (đối diện Bến xe V), lúc này M điều khiển xe với tốc độ 80km/h, do vừa điều khiển xe vừa sử dụng điện thoại để tìm đường nên M không chú ý quan sát, không đảm bảo khoảng cách với xe của bà L đang chạy phía trước, cùng chiều nên phần đầu xe ô tô do M điều khiển đâm, va vào xe mô tô do bà L điều khiển, lúc này do giật mình, M đánh lái sang phải nên phần đầu xe của M tiếp tục va chạm với xe mô tô do anh K1 điều khiển đang dừng đỗ phía trước, hậu quả làm anh K1 tử vong.

Về vật chứng trong vụ án: Quá trình điều tra xác minh xe ô tô BKS 15F-00719 thuộc sở hữu hợp pháp của chị Bùi Thị Thanh T1, sinh năm 1991, nơi thường trú: tổ dân phố số A, phường Đ, quận H (nay là phường H), Hải Phòng, là chị dâu của Nguyễn Văn M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại xe; Đăng ký xe; Giấy kiểm định an toàn kỹ thuật cho chị T1.

Đối với xe mô tô BKS 16H8-8699 cùng Đăng ký xe; Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị L, trả lại cho bà L là chủ sở hữu hợp pháp

Đối với xe mô tô BKS 17H6-5261 kéo theo thiết bị tự chế có giá chở hàng; 06 thanh sắt dạng hộp; 02 cuộn tôn thép cùng Đăng ký xe đã trả lại cho đại diện gia đình anh Nguyễn Văn K1 là chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1985, nơi thường trú: thôn T, xã A, Hải Phòng.

Đối với 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng D2 thu giữ của Nguyễn Văn M chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Nguyễn Văn M đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Văn K1 số tiền 250.000.000 đồng, đại diện gia đình anh K1 không còn yêu cầu gì khác. Đối với bà Nguyễn Thị L, có đơn xin từ chối giám định thương tích do xây xát nhẹ và không yêu cầu M phải bồi thường về tài sản và thương tích

Đối với thiệt hại về tài sản do hư hỏng của các phương tiện chưa đến mức phải xử lý hình sự, các bên đương sự không có yêu cầu, đề nghị nên Cơ quan điều tra không xử lý là có cơ sở.

Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKSKV5 ngày 01/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hải Phòng đã truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bà Nguyễn Thị L là bị hại trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa song đã có đơn xin xét xử vắng mặt và lời khai trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 11/4/2025 bà Nguyễn Thị L điều khiển xe mô tô BKS 16H-8699 chở rau, củ khi đi trên đường B, hướng B - V, khi di chuyển đến lối mở thứ nhất qua dốc cầu B (đối diện bến xe V) thuộc phường V, quận L (nay là phường A), Hải Phòng bà bị xe ô tô BKS:15F-00719 của Nguyễn Văn M đâm, va vào sau xe, hậu quả bà bị thương tích nhẹ. Nay bà không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Văn K1 trình bày: Ngày 11/4/2025, anh Nguyễn Văn K1 điều khiển xe mô tô BKS 17H6-5261 phía sau kéo theo thiết bị tự chế có giá chở 06 thanh sắt hộp và 02 cuộn tôn thép gồm 18 tấm tôn mái lợp khi đang dừng, đỗ ở đoạn lối mở thứ nhất qua dốc cầu B (đối diện bến xe V) thuộc phường V, quận L (nay là phường A), Hải Phòng thì bị xe ô tô BKS:15F-00719 của Nguyễn Văn M đâm, va vào sau xe, hậu quả K1 bị thương được đưa vào Bệnh viện V1 cấp cứu, sau đó tử vong cùng ngày. Nay bị cáo đã bồi thường cho gia đình số tiền 250.000.000 đồng nên không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn M với mức hình phạt từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo từ 36 tháng đến 48 tháng tính từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị L và người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Văn K1 là chị Nguyễn Thị L1 không có yêu cầu bồi thường nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Đối với Giấy phép lái xe chuyển theo hồ sơ vụ án: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng D2 mang tên Nguyễn Văn M.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hải Phòng và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, Bản kết luận giám định tử thi số 1025/KL-KTHS ngày 28/4/2025 của Phòng K2 Công an thành phố H, Bản kết luận giám định số 1298/KL-KTHS ngày 12/5/2025 của Phòng K2 Công an thành phố H, Bản kết luận giám định số 1239/KL-KTHS ngày 15/5/2025 của Phòng K2 Công an thành phố H, bản kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐGTS ngày 15 tháng 8 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng, lời khai của người làm chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Khoảng 05 giờ 36 phút ngày 11/4/2025, bị cáo Nguyễn Văn M điều khiển xe ô tô BKS 15F-00719 trên đường B, hướng từ cầu B về vòng xuyến Bùi V giao với đường V, thuộc phường V, quận L (nay là phường A), Hải Phòng với tốc độ khoảng 80km/h, khi đi bị cáo vừa điều khiển xe, vừa sử dụng điện thoại, khi đến lối mở thứ nhất chân cầu B, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, không đảm bảo khoảng cách với xe chạy liền trước đã đâm, va vào xe mô tô BKS 16H8-8699 do bà Nguyễn Thị L điều khiển chạy cùng chiều phía trước, sau đó tiếp tục đâm, va vào xe mô tô BKS 17H6-5261 do anh Nguyễn Văn K1 điều khiển đang dừng, đỗ phía trước. Hậu quả, bà L bị thương nhẹ, anh K1 bị tử vong, 03 phương tiện bị hư hỏng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M thoả mãn cấu thành phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến việc bị hại là anh K1 khi tham gia giao thông điều khiển xe mô tô kéo theo thiết bị tự chế có giá chở 06 thanh sắt hộp và 02 cuộn tôn thép gồm 18 tấm tôn mái lợp là hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông nên xác định cũng có một phần lỗi của bị hại.
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, bị cáo cũng đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại anh Nguyễn Văn K1 số tiền 250.000.000 đồng và người nhà bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, ngoài ra bị cáo có bố là người có công với Cách mạng được thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  6. Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận định:

    Bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong vụ án cũng do một phần lỗi của bị hại vì vậy không nhất thiết phải bắt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

  7. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị L và người đại diện hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Văn K1 là Chị Nguyễn Thị L1 không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  8. Đối với 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng D2 thu giữ của bị cáo chuyển theo hồ sơ vụ án. Xét thấy, đây là giấy tờ cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần xem xét trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  9. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
  10. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Văn M cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Nguyễn Văn M

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe số [...] hạng D2 mang tên Nguyễn Văn M

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn M, người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Nguyễn Thị L1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại bà Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - UBND xã Đường Hoa, tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố;
  • - VKSND khu vực 5 – Hải Phòng;
  • - Phòng PV06; PC10;
  • - Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Hải Phòng;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Nam Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HS-ST ngày 17/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 65/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M Vi phạm quy dịnh về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger