|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST Ngày: 24 – 6 – 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Thanh
- Ông Võ Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2025/TL.ST-HNGĐ, ngày 04 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim S, sinh ngày 05/6/1993;
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng T, sinh ngày 30/11/1990;
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Huỳnh Thị Kim S trình bày:
Bà S và ông Nguyễn Hồng T có quen biết, tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2013 ngày 01/8/2013. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 01 năm 2018 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên ly thân cho đến nay. Bà và ông T đã nhiều lần muốn hàn gắn nhưng không mang lại hạnh phúc. Bà thấy cuộc sống vợ chồng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Huỳnh Kim V, nữ, sinh ngày 28/7/2012, hiện đang do bà nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà S yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà S có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Quá trình tố tụng, ông Nguyễn Hồng T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và có yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, vắng mặt tại phiên tòa được mở lần thứ hai. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S, chấp thuận cho bà S ly hôn với ông T; về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Kim V cho bà S tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, ông T chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Huỳnh Thị Kim S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Hồng T và có tranh chấp về nuôi con, bị đơn ông T cư trú tại huyện C, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
[1.2] Tại phiên tòa, bà Huỳnh Thị Kim S vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Hồng T vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Giữa bà S và ông T quen biết, có thời gian tìm hiểu nhau và tự nguyên tiến tới hôn nhân, sau đó có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống bà S cho rằng có phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, dẫn đên ly thân từ tháng 01 năm 2018 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án triệu tập hợp lệ ông T nhiều lần để tham gia phiên họp, phiên tòa nhưng ông T vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày ý kiến cho thấy ông T không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân với bà S. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn giữa bà S và ông T đã đến mức trầm trọng, hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S đối với ông T.
[2.2] Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Huỳnh Kim V, nữ, sinh ngày 28/7/2012, hiện bà S đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà S yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V. Xét thấy, cháu V hiện nay do bà S đang trực tiếp nuôi dưỡng và nguyện vọng của cháu V được tiếp tục chung sống cùng bà S; còn ông S không đến Toà án để thể hiện ý kiến, yêu cầu của mình về quyền nuôi dưỡng con chung, chưa thể hiện được trách nhiệm, nghĩa vụ đối với con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của bà S. Do bà S không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên ông T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T, không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà S khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
[3] Từ những nhận định trên, xét yêu cầu của bà S cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kim S.
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Kim S được ly hôn với ông Nguyễn Hồng T.
- 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Huỳnh Kim V, giới tính: nữ, sinh ngày 28/7/2012 cho bà Huỳnh Thị Kim S tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 (mười tám) tuổi. Bà S không yêu cầu ông T cấp dưỡng nên ông T chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- 3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác
- 4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị Kim S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển số tiền tạm ứng án phí bà S đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0005054 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Bà S đã nộp xong án phí.
- 5. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thanh |
Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
