Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HS - ST

Ngày: 23/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thu Trang

2. Bà Nguyễn Ngọc Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Long – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lại Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1986; ĐKHK: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: Lô L khu phát triển nhà ở hai bên đường K, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Giám đốc công ty TNHH MTV X; con ông Nguyễn Quang H1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; có vợ là Nguyễn Thị B và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng của Ủy ban kiểm tra huyện ủy T1, tỉnh Thái Bình; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.

* Người làm chứng:

Chị Nguyễn Hải V – sinh năm 1981

Nơi cư trú: lô C đường N, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn H là giám đốc công ty TNHH MTV X có địa chỉ tại lô L, khu phát triển nhà ở hai bên đường K, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 1001250117 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh T cấp ngày 07/7/2020, ngành nghề kinh doanh chính là: kinh doanh vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng, xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng khác.

Khoảng đầu tháng 12/2022, Công ty X ký hợp đồng thi công xây dựng và cải tạo trường bắn cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Y với các hạng mục gồm: đào, đắp, vận chuyển đất tại công trường và xây dựng, sửa chữa các bệ bắn. Quá trình thực hiện bị cáo thuê một số cá nhân là người địa phương làm một số công việc như san đất, đầm đất, vận chuyển đất với tổng khối lượng là 81.871m³ và thanh toán tiền công là 616.002.949 đồng. Do các cá nhân làm thuê cho bị cáo đều là lao động tự do, không thuộc công ty, doanh nghiệp nào nên không có hóa đơn để hợp thức hóa khối lượng san, đầm, vận chuyển đất. Qua tìm hiểu bị cáo đã liên hệ với người đàn ông tên H2 (không rõ họ tên đầy đủ, tuổi, địa chỉ) ở tỉnh Yên Bái để mua hóa đơn giá trị gia tăng trái phép không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo. Bị cáo thỏa thuận với H2 mua hóa đơn GTGT thì bị cáo chuyển thông tin về khối lượng, đơn giá đất được đào, đắp, san, vận chuyển; bị cáo phải trả số tiền là 8% giá trị hàng hóa, dịch vụ ghi trên từng hóa đơn và 4% tổng số tiền trên hóa đơn. Hoàng in hóa đơn rồi gửi xe khách về thành phố T cho bị cáo, bị cáo thanh toán tiền mặt cho lái xe khách. Trong khoảng thời gian từ ngày 04/12/2022 đến ngày 28/12/2022, bị cáo đã mua trái phép của H2 33 hóa đơn không kèm theo hàng hóa dịch vụ gồm: 14 hóa đơn của công ty TNHH T2, địa chỉ tầng D, số E đường L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; 13 hóa đơn của công ty TNHH T3, địa chỉ tại số I đường G, tổ E, phường G, quận L, thành phố Hà Nội và 6 hóa đơn của công ty TNHH D, địa chỉ tại tầng 2, số C phố T, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. Tổng số tiền bị cáo đã nhiều lần trả cho H2 để mua hóa đơn là 70.269.966 đồng.

Sau mỗi lần nhận hóa đơn, bị cáo giao lại cho chị Nguyễn Hải V là kế toán thời vụ của công ty X để làm chứng từ hạch toán hàng hóa, dịch vụ mua vào của công ty X và kê khai, báo cáo tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh với cơ quan thuế tại kỳ kê khai quý 4/2022, tổng doanh số là 616.002.949 đồng, số thuế được khấu trừ là 45.629.848 đồng. Ngày 06/01/2023, do lo sợ rủi ro việc mua hóa đơn trái phép sẽ bị xử lý, bị cáo yêu cầu chị V thực hiện kê khai bổ sung, loại 33 tờ hóa đơn GTGT trái phép nói trên ra khỏi chi phí của công ty X. Thấy có dấu hiệu bất thường nên chị V đã trình báo với Cơ quan Công an để điều tra làm rõ.

Tại bản Cáo trạng số 63/CT - VKSTPTB ngày 21 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo điểm d khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: bị cáo Nguyễn Văn H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H số tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng là chị Nguyễn Hải V. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: văn bản trả lời của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Y; tài liệu của cơ quan thuế; 33 tờ hóa đơn giá trị gia tăng do bị cáo giao nộp; sao kê tài khoản Ngân hàng... cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 04/12/2022 đến ngày 28/12/2022, bị cáo Nguyễn Văn H là Giám đốc công ty TNHH MTV X có ký hợp đồng thi công xây dựng và cải tạo trường bắn cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Y với tổng giá trị trước thuế là 570.373.101 đồng. Để có hóa đơn hạch toán và kê khai thuế, bị cáo đã liên hệ và mua của một người đàn ông không quen biết tên H2 33 số hóa đơn GTGT trái phép (không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo) của công ty TNHH T2, Công ty TNHH T3 và Công ty TNHH D với tổng giá trị ghi trên hóa đơn là 616.002.949 đồng, số tiền bị cáo đã trả cho H2 để mua hóa đơn là 70.269.966 đồng.

Bị cáo Nguyễn Văn H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép hóa đơn là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi mua 33 số hóa đơn GTGT trái phép không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 203 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 203: Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn chứng từ thu

nộp ngân sách nhà nước

  1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
    • d) Hóa đơn, chứng từ ở dạng phôi từ 100 số trở lên hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 30 số trở lên;
  3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Chỉ trong thời gian ngắn từ ngày 04/12/2022 đến ngày 28/12/2022, bị cáo Nguyễn Văn H đã mua 33 số hóa đơn giá trị gia tăng trái phép không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo để hợp thức hóa việc hạch toán và kê khai thuế trong hoạt động của công ty. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với các loại hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội; trên cơ sở xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Do đó, cần áp dụng với bị cáo hình phạt tiền như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 33 hóa đơn GTGT trái phép do bị cáo Nguyễn Văn H giao nộp đã được Cơ quan điều tra thu giữ, quản lý và lưu theo hồ sơ.

[7] Về các vấn đề khác: Quá trình điều tra xác định Mai Xuân H3, sinh năm 1992, trú tại tổ A, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cùng đồng phạm sử dụng giấy tờ giả lập ra nhiều Công ty để bán hóa đơn GTGT trái phép, trong đó có 03 Công ty gồm: Công ty TNHH T2, địa chỉ tầng D, số E, đường L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Công ty TNHH T3 có địa chỉ tại số I, đường G, tổ E, phường G, quận L, thành phố Hà Nội và Công ty TNHH D có địa chỉ tại tầng 2, số C phường T, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội. Trong thời gian từ 04/12/2022 đến 28/12/2022, Mai Xuân H3 cùng đồng phạm đã xuất trái phép 33 hóa đơn không kèm theo hàng hóa, dịch vụ cho Công ty X với giá từ 0,3% đến 0,5% giá trị thanh toán ghi trên từng số hóa đơn, trong đó: Công ty TNHH T2 xuất bản 14 số, Công ty TNHH T3 xuất bản 13 số và công ty TNHH D xuất bản 06 số. Tổng trị giá hàng hóa dịch vụ (trước thuế) ghi trên 33 số hóa đơn là 570.373.101 đồng; tổng trị giá thanh toán (sau thuế) ghi trên 33 số hóa đơn là 616.002.949 đồng. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, Mai Xuân H3 giao dịch với lượng khách hàng mua hóa đơn trái phép rất lớn, sử dụng rất nhiều tài khoản ngân hàng ảo (không chính chủ) để giao dịch, nhận tiền của người mua hóa đơn; Cơ quan điều tra không thu thập được thông tin, tài liệu khác nên không xác định được nội dung, diễn biến người trung gian liên hệ mua 33 tờ hóa đơn GTGT trái phép của Mai Xuân H3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N, tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố bị can Mai Xuân H3 về tội "Mua bán trái phép hóa đơn" theo Quyết định

khởi tố bị can số 209 ngày 27/10/2023, trong đó đã bao gồm cả 33 tờ hóa đơn mà Nguyễn Văn H đã mua trái phép, vụ án đã kết luận điều tra bổ sung số 78 ngày 28/02/2025. Cơ quan điều tra Công an tỉnh T không xem xét xử lý đối với Mai Xuân H3 về hành vi bán hóa đơn trong vụ án này là phù hợp.

* Đối với người nam giới tên H2 ở tỉnh Yên Bái: Bị cáo khai mua 33 hóa đơn trái phép từ người nam giới tên H2 không rõ tên tuổi, địa chỉ; tài liệu điều tra không xác định được người tên H2 làm gì, ở đâu, đã liên hệ với ai để mua hóa đơn GTGT trái phép; không thu thập được thông tin, tài liệu khác liên quan đến đối tượng H2 hoặc người trung gian mua bán trái phép hóa đơn GTGT với Mai Xuân H3 nên không đủ căn cứ để xử lý.

* Đối với chị Nguyễn Hải V được Công ty X thuê thời vụ 2.000.000 đồng/lần để quyết toán thuế vào quý 4/2022, chị V không biết nguồn gốc 33 hóa đơn bị cáo H3 đưa; khi bị cáo yêu cầu điều chỉnh bỏ 33 hóa đơn không kê khai với cơ quan thuế, chị V thấy có dấu hiệu vi phạm, đã làm đơn trình báo Công an nên không có căn cứ để xử lý đối với chị Nguyễn Hải V.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
  2. Hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 203; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 35 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 230.000.000 đồng (hai trăm ba mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Thái Bình;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh;
  • - Chi cục THADS thành phố Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu HC-TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HS - ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH về mua bán trái phép hóa đơn

  • Số bản án: 65/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội Mua bán trái phép hóa đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger