Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/4/2025

V/v: “Ly hôn giữa chị Minh và anh Thuận”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Vĩnh Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. bà Phạm Thị Ngọc Vân
  • 2. ông Võ Thành Nhân

- Thư ký phiên toà: bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 636/2024/TLST - HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXX - DS ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1982; Địa chỉ: 1 N, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  2. Bị đơn: anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1979; Địa chỉ: 1 N, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

chị M, anh T vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 11 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Tuyết M trình bày:

- Về hôn nhân: chị và anh Nguyễn Ngọc T sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2019. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và tình cảm, anh T không chăm lo đời sống chung của gia đình, không quan tâm vợ con, đã nhiều lần hòa giải và hàn gắn nhưng không được. Chị và anh T đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chị thấy vợ chồng không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về con chung: có hai con chung tên Nguyễn Hoàng Bảo L, sinh ngày 20/10/2007 và cháu Nguyễn Hoàng Bảo L1, sinh ngày 16/11/2019. Hiện hai cháu đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi hai con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: không có.

Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Ngọc T biết để tham gia phiên tòa theo quy định nhưng anh T vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không cung cấp chứng cứ hoặc có ý kiến bằng văn bản phản hồi về việc chị M khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: chị Trần Thị Tuyết M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Ngọc T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: chị Trần Thị Tuyết M có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Ngọc T nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Ngọc T có nơi cư trú tại phường B, thành phố M nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Về hôn nhân: Chị M và anh T sống chung với nhau vào năm 2019, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B vào năm 2019 là phù hợp với Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị M trình bày là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và tình cảm, anh T không chăm lo đời sống chung của gia đình, không quan tâm vợ con, đã nhiều lần hòa giải và hàn gắn nhưng không được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay.

Xét thấy anh T đã được Tòa án triệu tập đến để hòa giải đoàn tụ nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy phía anh T không có thiện chí nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, thời gian sống ly thân giữa chị M và anh T đã kéo dài mà không giải quyết được mâu thuẫn. Hội đồng xét xử xét thấy đời sống hôn nhân giữa chị M và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, cho chị M ly hôn với anh T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: có hai con chung tên Nguyễn Hoàng Bảo L, sinh ngày 20/10/2007 và cháu Nguyễn Hoàng Bảo L1, sinh ngày 16/11/2019. Khi ly hôn chị M yêu cầu trực tiếp nuôi hai con chung. Xét thấy, tại bản án số 87/2015/HNGĐ-ST ngày 24/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đang có hiệu lực pháp luật đã giải quyết giao cháu Nguyễn Hoàng Bảo L cho chị M trực tiếp nuôi nên trong vụ án này, Hội đồng xét xử không xem xét đối với yêu cầu nuôi cháu L của chị M. Đối với yêu cầu trực tiếp nuôi cháu L1, xét thấy do cháu cũng đang sống chung với chị M nên để tránh xáo trộn trong cuộc sống của cháu ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cháu L1 cho chị M trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: chị M không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: chị M và anh T không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: chị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Trần Thị Tuyết M và anh Nguyễn Ngọc T.
  2. Về nuôi con chung: giao con chung tên Nguyễn Hoàng Bảo L1, sinh ngày 16/11/2019 cho chị Trần Thị Tuyết M trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí: chị Trần Thị Tuyết M phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 6056 ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
  4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND TP Mỹ Tho;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường 2, TP. Mỹ Tho;
  • - Chi Cục THADS TP Mỹ Tho;
  • - Lưu.

TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Vĩnh Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger