Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/DS-ST

Ngày 08-4-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Khel.

Ông Hà Văn Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Phạm Thúy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N; Địa chỉ: Số A T, Phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Thanh B - Chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần N - Chi nhánh S; Địa chỉ: Số C, đường T, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng – là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, theo văn bản ủy quyền ngày 18/02/2025. (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn:

1. Ông Quách Mộc T, sinh năm 1966 (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)

2. Bà Mai Thị Lệ T1, sinh năm 1967 (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)

Cư trú: Số A, Đường số A, Khu phố C, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Quách Mộc T2, sinh năm: 1989; Cư trú: Số A, Đường số A, Khu phố C, phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 01/4/2024 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng), trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 08/4/2025, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần Thanh B trình bày:

Vào ngày 03/12/2020, ông Quách Mộc T cùng với Ngân hàng Thương mại cổ phần N - Chi nhánh S, hai bên ký kết Hợp đồng cho vay số: 0244/20/HĐTD/ST/DN2, ngày 03/12/2020, với nội dung cụ thể như sau: số tiền vay: 8.000.000.000 đồng; mục đích vay: Bù đắp tiền mua nhà ở và đất ở; thời hạn cho vay là: 180 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay; lãi suất trong hạn: 8,4%/năm và cố định trong 18 tháng kể từ ngày giải ngân; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; phương thức trả nợ gốc: theo kế hoạch trả nợ ngày 04/12/2020; thời gian trả lãi: định kỳ vào ngày 26 hàng tháng. Nợ gốc trả định kỳ 03 tháng 01 lần số tiền 133.000.000 đồng, riêng lần sau cùng trả số tiền 153.000.000 đồng; trả vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu từ tháng 3/2021. Ngân hàng đã giải ngân cho ông T nhận đủ số tiền 8.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 01 ngày 04/12/2020, bằng hình thức chuyển khoản.

Để bảo đảm cho khoản vay trên, ông T và vợ là bà Mai Thị Lệ T1 có đảm bảo bằng các tài sản sau:

  1. Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 049/20/HĐTC/ST/DN2 ký ngày 28/02/2020 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 01-049/20/HĐTC/ST/DN2 ký ngày 27/11/2020:

    Sóc Trăng; Diện tích: 13.305,8 m²; (trong đó, đất ở đô thị (ODT): 200 m²; Đất trồng cây lâu năm (CLN): 12.985,8 m²; Đất trồng cây hàng năm (HNK) 120 m²).

    • - Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 303969, vào số cấp GCN số CS00208 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh S cấp ngày 19/07/2016; thửa đất số: 64; tờ bản đồ 56; đất toạ lạc tại Khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; diện tích: 7.288,3 m² (mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước).
    • - Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 303968, vào số cấp GCN số CS00207 do Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh S cấp ngày 19/07/2016; thửa đất sử 679; tờ bản đồ 56; đất toạ lạc tại Khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; diện tích: 2.100,8 m² (Mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước).
    • - Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 944723, vào số cấp GCN số C104791 do UBND Thành phố S cấp ngày 26/01/2015; thửa đất số: 63; tờ bản đồ: 56; đất toạ lại tại Khóm E, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Diện tích: 6.688,8 m² (Mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm)
    • - Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 212835, vào số cấp GCNQSD đất số H 5203 do UBND Thành phố S cấp ngày 06/11/2007; thửa đất số 675; tờ bản đồ: 56; đất toạ lại tại Khóm E, Phường C, Thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; diện tích: 207,4 m² (Mục đích sử dụng: Đất ở đô thị (ODT): 100 m²; Đất trồng cây hàng năm (HNK). 107,4 m²).
    • - Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 283348, vào số cấp GCNQSD đất số 01118 QSDD/58010305 do UBND Thị Xã S (nay là UBND Thành phố S) cấp ngày 28/09/2000; thửa đất số: 249; tờ bản đồ: 56; đất toạ lạc tại Khóm E, Phường C, thị xã nay là thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; diện tích: 228 m² (Mục đích sử dụng: T: 194,2 m²; HNK: 33,8 m²).
  2. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0242/20/HĐTC/ST/DN2 ký ngày 03/12/2020: Thửa đất số 92-304, tờ bản đồ 07 (TL 02/CT-UB), địa chỉ: Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; diện tích: 92 m² (Mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị) theo giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 168550, vào số cấp GCN: CH02768, do UBND quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/05/2011, cập nhật chuyển nhượng cho ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 ngày 27/12/2018.

Đến ngày 05/11/2021, Ngân hàng với ông T ký hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng cho vay số: 0244/20/HĐTD/ST/DN2 ngày 03/12/2020, theo đó, tài sản thế chấp chỉ còn Thửa đất số 92-304, tờ bản đồ 07 (TL 02/CT-UB); diện tích: 92 m²; địa chỉ: phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào thời điểm ngân hàng nhận thế chấp trên thửa đất số 92-304, tờ bản đồ 07 (TL 02/CT-UB), đã có các công trình xây dựng chưa được công nhận quyền sở hữu, gồm:

  • - Cổng rào phía trước; kết cấu: cột bê tông, cửa rào sắt, có bảng số nhà 1 đường số A, phường A, quận B, KDC Nam H.
  • - Cổng rào phía sau; cửa có đặt tượng phật (phía trước thửa đất), có tường gạch ngăn với phần đất phía sau.
  • - Một phần căn nhà số A đường số A A, B (KDC Nam H) gồm: tầng trệt + 02 lầu + sân thượng; Kết cấu: tường gạch, nền bê tông cốt thép.

Khi nhận thế chấp, Ngân hàng với ông T, bà T1 thống nhất thế chấp toàn bộ đất và công trình xây dựng trên đất. Việc thoả thuận thế chấp toàn bộ công trình xây dựng trên đất được quy định tại mục ii Điều 2 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0242/20/HĐTC/ST/DN2 ký ngày 03/12/2020, “Tất cả tài sản gắn liền với thửa đất và/hoặc quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của bên thế chấp” cũng thuộc tài sản bảo đảm. Do bà T1 đã có văn bản uỷ quyền cho ông T theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 01/12/2020 số công chứng 21905, Quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/12/2020, được công chứng tại Phòng công chứng số 2 Thành phố H (9 N, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh) nên ông T đại diện bà T1 ký tên vào hợp đồng thế chấp, mà không cần bà T1 phải ký tên.

Quá trình thực hiện hợp đồng từ ngày 03/12/2020 đến nay, ông T trả nợ vốn được số tiền là 3.000.000.000 đồng, trả lãi được số tiền là 1.611.044.601 đồng. Tính đến ngày 08/4/2025, ông T còn nợ tổng số tiền vốn và lãi là 5.615.574.034 đồng (trong đó, nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, lãi trong hạn là 608.962.294 đồng, lãi quá hạn: 6.611.740 đồng).

Do ông T và bà T1 là vợ chồng, mặc dù bà T1 không cùng ông T ký tên vào hợp đồng tín dụng nhưng việc ông T vay tiền bà T1 biết và đồng ý. Mục đích ông T vay tiền là để mua bất động sản (là tài sản chung của vợ chồng). Do đó, ông T và bà T1 phải cùng có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng Thương mại cổ phần N yêu cầu Toà án giải quyết:

  1. Buộc ông T và bà T1 liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N, tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày 08/4/2025 là 5.615.574.034 đồng (trong đó, nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, lãi trong hạn là 608.962.294 đồng, lãi quá hạn: 6.611.740 đồng).
  2. Buộc ông T và bà T1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán toàn bộ các khoản lãi quá hạn, phí phát sinh theo lãi suất thỏa thuận của các Hợp đồng cho vay nói trên, cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
  3. Trường hợp ông T và bà T1 không có khả năng trả nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn cho Ngân hàng thì yêu cầu Tòa án tuyên Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số MERGEFIELD "SỐ_HĐTC" 0025/18/HĐTC/ST/TN10242/20/HĐTC/ST/DN203/12/2020 để thu hồi nợ gồm:
    • - Quyền sử dụng đất diện tích: 92 m², tại thửa đất số 92-304; tờ bản đồ 07 (TL 02/CT-UB); Địa chỉ: phường A, quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và tài sản khác gắn liền với đất số BE 168550; Số vào sổ cấp GCN: CH02768 do UBND quận B, Thành Phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/05/2011, được chỉnh lý biến động sang tên cho ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 ngày 27/12/2018.
    • - Cùng toàn bộ công trình xây dựng trên đất chưa được công nhận quyền sở hữu là:
      • + Cổng rào phía trước; kết cấu: cột bê tông, cửa rào sắt, có bảng số nhà 1 đường số A, phường A, quận B, KDC Nam H.
      • + Cổng rào phía sau; cửa có đặt tượng phật (phía trước thửa đất), có tường gạch ngăn với phần đất phía sau.
      • + Một phần căn nhà số A đường số A A, B (KDC Nam H) gồm: tầng trệt + 02 lầu + sân thượng; Kết cấu: tường gạch, nền bê tông cốt thép.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/01/2025, bị đơn ông Quách Mộc T trình bày:

Ông T với bà Mai Thị Lệ T1 là vợ chồng. Vào ngày 03/12/2020, ông T và Ngân hàng Thương mại cổ phần N - Chi nhánh S, có ký hợp đồng cho vay số: 0244/20/HĐTD/ST/DN2, ngày 03/12/2020, để vay số tiền 8.000.000.000 đồng, với các nội dung như nguyên đơn trình bày là đúng. Theo ông T, khi vay tiền bà T1 có biết và đồng ý, mục đích vay là để bù đắp tiền mua nhà ở và đất ở nên đây là nợ chung của vợ chồng ông T, bà T1.

Để bảo đảm cho khoản vay trên, ông T và vợ là bà T1 thế chấp cho Ngân hàng các tài sản như ngân hàng trình bày là đúng.

Đến ngày 05/11/2021, Ngân hàng với ông T ký hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng cho vay số: 0244/20/HĐTD/ST/DN2, ngày 03/12/2020, theo đó, tài sản thế chấp chỉ còn thửa đất số 92-304, tờ bản đồ 07 (TL 02/CT-UB), địa chỉ: Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; diện tích: 92 m²; (mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 168550, vào số cấp GCN: CH02768, do UBND quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/05/2011, được chỉnh lý biến động sang tên cho ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 ngày 27/12/2018.

Vào thời điểm Ngân hàng nhận thế chấp trên thửa đất số 92-304, tờ bản đồ 07 (TL 02/CT-UB), trên đất đã có công trình xây dựng thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông T, bà T1 gồm: Cổng rào phía trước; kết cấu: cột bê tông, cửa rào sắt, có bảng số nhà 1 đường số A, phường A, quận B, KDC Nam H; Cổng rào phía sau; cửa có đặt tượng phật (phía trước thửa đất), có tường gạch ngăn với phần đất phía sau; Một phần căn nhà số A đường số A A, B (KDC Nam H) gồm: tầng trệt + 02 lầu + sân thượng; Kết cấu: tường gạch, nền bê tông cốt thép. Phần công trình này chưa được công nhận quyền sở hữu và ông bà đồng ý thế chấp cho Ngân hàng toàn bộ phần đất và công trình xây dựng có trên đất như trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã trả nợ vốn vay được số tiền là 3.000.000.000 đồng, trả lãi được số tiền là 1.611.044.601 đồng, còn nợ lại số tiền vốn vay là 5.000.000.000 đồng đến nay chưa thanh toán và tiền lãi phát sinh.

Nay ông T thừa nhận, vợ chồng ông bà còn nợ Ngân hàng số tiền vốn và lãi phát sinh theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đồng ý trả số tiền này cho Ngân hàng.

Tuy nhiên, hiện nay ông T đang bị tạm giam để điều tra trong vụ án hình sự nên không thể thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với phần tài sản có trên đất được. Do đó, ông T yêu cầu Ngân hàng hỗ trợ cho ông các thủ tục liên quan để xin đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản có trên đất để nhà và đất có giá trị hơn và đề nghị Ngân hàng xem xét, giảm toàn bộ lãi trong hạn, lãi quá hạn và các khoản phí có liên quan cho ông T. Sau khi giải quyết xong vụ án hình sự và tài sản của ông được giải phong toả thì ông T sẽ trả tất nợ cho Ngân hàng. Trường hợp không được thì ông đồng ý để Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi toàn bộ diện tích đất và tài sản gắn liền trên đất theo hợp đồng thế chấp đã ký để ngân hàng thu hồi nợ.

Đối với bị đơn bà Mai Thị Lệ T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Quách Mộc T2: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà T1 và ông T2 nhận nhưng bà T1 và ông T2 không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án mà chỉ gửi đơn xin giải quyết vắng mặt.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70, 71 và 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1, cư trú tại số A, Đường số A, Khu phố C, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thanh toán số tiền vốn và lãi vay còn nợ là 5.615.574.034 đồng, theo Hợp đồng cho vay số: 0244/20/HĐTD/ST/DN2, ngày 03/12/2020 và hợp đồng tín dụng nêu trên được thực hiện tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm g Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn là ông Trần Thanh B, bị đơn ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Quách Mộc T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông T, bà T1 trả số tiền gốc và lãi là 5.615.574.034 đồng, thấy rằng:

[3.1] Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn ông T đều thống nhất đã ký Hợp đồng cho vay số: 0244/20/HĐTD/ST/DN2, ngày 03/12/2020, theo đó, Ngân hàng cho ông T vay số tiền 8.000.000.000 đồng, mục đích vay: bù đắp tiền mua nhà ở và đất ở; thời hạn cho vay là: 180 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay; lãi suất trong hạn: 8,4%/năm và cố định trong 18 tháng kể từ ngày giải ngân; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; phương thức trả nợ gốc: theo kế hoạch trả nợ ngày 04/12/2020; thời gian trả lãi: định kỳ vào ngày 26 hàng tháng. Nợ gốc trả định kỳ 03 tháng 01 lần số tiền 133.000.000 đồng, riêng lần sau cùng trả số tiền 153.000.000 đồng; trả vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu từ tháng 3/2021. Ngân hàng đã giải ngân cho ông T nhận đủ số tiền 8.000.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số 01 ngày 04/12/2020, bằng hình thức chuyển khoản. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tình tiết không phải chứng minh.

[3.2] Về tính hợp pháp của hợp đồng cho vay số: 0244/20/HĐTD/ST/DN2, ngày 03/12/2020. Ngân hàng Thương mại cổ phần N ủy quyền cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N - Chi nhánh S giao kết hợp đồng với ông T thông qua người đại diện hợp pháp của Ngân hàng, hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hình thức hợp đồng hợp pháp. Các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, tự nguyện ký kết, không bị lừa dối ép buộc và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực và buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.

[3.3]. Ông T đã nhận đủ số tiền vốn vay là 8.000.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay số: 0244/20/HĐTD/ST/DN2, ngày 03/12/2020 và giấy nhận nợ số 01 ngày 04/12/2020 từ Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng từ ngày 03/12/2020 đến nay, ông T trả vốn vay được số tiền là 3.000.000.000 đồng và trả lãi được số tiền là 1.611.044.601 đồng. Tuy nhiên, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền vốn và lãi theo kế hoạch trả nợ ngày 04/12/2020 (cụ thể vi phạm nghĩa vụ trả lãi từ ngày 28/12/2023 và vi phạm thanh toán nợ gốc 03 kỳ từ ngày 03/9/2024), quy định tại Điều 9 Hợp đồng cho vay mà hai bên đã ký kết. Đồng thời, ông T đang bị tạm giam để điều tra trong vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quyết định khởi tố vụ án hình sự số 148/QĐ-PC03-Đ2 ngày 21/02/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H. Tính đến ngày 08/4/2025, ông T còn nợ tổng số tiền vốn và lãi là 5.615.574.034 đồng (trong đó, nợ gốc là 5.000.000.000 đồng, lãi trong hạn là 608.962.294 đồng, lãi quá hạn: 6.611.740 đồng). Do đó, Ngân hàng đã chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn theo quy định tại Điều 13.1.1 và 13.1.6 Hợp đồng cho vay và yêu cầu ông T thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền vốn vay còn nợ tính đến ngày 08/4/2025 là 5.000.000.000 đồng, là có căn cứ được chấp nhận.

[3.4] Xét yêu cầu trả lãi của nguyên đơn: Theo Hợp đồng cho vay số: 0244/20/HĐTD/ST/DN2 ngày 03/12/2020 và giấy nhận nợ số 01 ngày 04/12/2020 thì các bên thỏa thuận lãi suất vay trong hạn: 8,4 %/năm và cố định trong 18 tháng kể từ ngày giải ngân; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Từ ngày 04/12/2023, Ngân hàng đã điều chỉnh lãi suất trong hạn lên 9,5% và áp dụng cho đến nay. Quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 28/12/2023, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và chưa thanh toán nợ 03 kỳ nợ gốc theo thoả thuận nên Ngân hàng đã chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn và chuyển những kỳ nợ gốc quá hạn chưa thanh toán của ông T sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn là phù hợp quy định tại Điều 9 Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Nay Ngân hàng yêu cầu ông T thanh toán số tiền lãi còn nợ tính đến hết ngày 08/4/2025 là 615.574.034 đồng (gồm: lãi trong hạn là 608.962.294 đồng; lãi quá hạn là 6.611.740 đồng) và số tiền lãi nêu trên Ngân hàng đã tính đúng nên được chấp nhận.

[3.5] Về trách nhiệm liên đới giữa ông T, bà T1 thấy rằng: ông T thừa nhận ông và bà T1 là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Khi ông vay tiền, ông với bà T1 đã trao đổi và thống nhất để ông T vay tiền của Ngân hàng. Mục đích ông T vay tiền là để bù đắp tiền mua nhà ở và đất ở là tài sản chung của vợ chồng. Toà án đã thông báo cho bà T1 biết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bà không có ý kiến phản đối. Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần N yêu cầu vợ chồng ông T và bà T1 cùng có trách nhiệm liên đới trả nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được chấp nhận.

Như vậy, tổng số tiền vốn và lãi mà bị đơn ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N đến hết ngày 08/4/2025 là 5.615.574.034 đồng.

[4] Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 09/4/2025 cho đến khi ông T, bà T1 trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao nên được chấp nhận.

[5]. Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn, thấy rằng:

[5.1]. Hợp đồng thế chấp giữa nguyên đơn với bị đơn được lập thành văn bản, có công chứng hợp đồng, các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, tự nguyện ký kết nên về hình thức và nội dung của hợp đồng là phù hợp với quy định tại quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 500, Điều 501, Điều 502 của Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai 2013. Ngoài ra, việc thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất đã được các bên thực hiện đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm nên có hiệu lực và buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo hợp đồng.

[5.2] Theo Điều 1 và Điều 2 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0242/20/HĐTC/ST/DN2 ngày 03/12/2020 thì ông T, bà T1 dùng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 92-304, tờ bản đồ 07 (TL 02/CT-UB), địa chỉ: Phường A, Quận B, Thành phố H; Diện tích: 92 m² (mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 168550, vào số cấp GCN: CH02768, do UBND Quận B, Thành phố H cấp ngày 05/05/2011, cập nhật chuyển nhượng cho ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 ngày 27/12/2018, để bảo đảm cho tất cả các khoản nợ và nghĩa vụ mà ông T, bà T1 phải trả cho Ngân hàng kể cả nợ gốc, nợ lãi, tiền phạt và bồi thường thiệt hại, các loại phí, lệ phí và các khoản bồi hoàn phát sinh,... nên có căn cứ để xác định Hợp đồng thế chấp nêu trên là để bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi của ông T, bà T1.

[5.3]. Đối với tài sản gắn liền trên đất:

Nguyên đơn và bị đơn ông T thống nhất trên thửa đất số 92-304, tờ bản đồ 07 (TL 02/CT-UB), địa chỉ: Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có các công trình xây dựng gồm: Cổng rào phía trước, kết cấu: cột bê tông, cửa rào sắt, có bảng số nhà 1 đường số A, phường A, quận B, KDC Nam H; Cổng rào phía sau, cửa có đặt tượng phật (phía trước thửa đất), có tường gạch ngăn với phần đất phía sau; Một phần căn nhà số A đường số A A, B (KDC Nam H) gồm: tầng trệt + 02 lầu + sân thượng; Kết cấu: tường gạch, nền bê tông cốt thép, thuộc quyền sở hữu của ông T, bà T1 nhưng chưa được công nhận quyền sở hữu. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tình tiết không phải chứng minh.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân sự 2015: “Trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất mà không thế chấp tài sản gắn liền với đất và người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì tài sản được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Tại mục mục ii Điều 2 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0242/20/HĐTC/ST/DN2 ký ngày 03/12/2020 “Tất cả tài sản gắn liền với thửa đất và/hoặc quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của bên thế chấp” cũng thuộc tài sản bảo đảm và khoản 2 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật”. Đồng thời, ông T đồng ý trường hợp ông T và bà T1 không trả được nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ quyền sử dụng đất và công trình xây dựng có trên đất thuộc quyền sở hữu của ông, bà để thu hồi nợ.

Từ những phân tích trên, Ngân hàng yêu cầu trường hợp ông T, bà T1 không có khả năng trả nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0242/20/HĐTC/ST/DN2 ký ngày 03/12/2020 và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất để thu hồi nợ là có cơ sở chấp nhận.

[5.4] Xét thấy, tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/8/2024 của Tòa án thể hiện, tài sản thế chấp nêu trên do ông Quách Mộc T2 đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Do đó, trường hợp ông T, bà T1 không có khả năng trả nợ và Ngân hàng yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì buộc ông Quách Mộc T2 có trách nhiệm giao tài sản thế chấp cho Cơ quan thi hành án có thẩm quyền để xử lý thu hồi nợ cho Ngân hàng.

[6] Xét yêu cầu của ông T về việc đề nghị Ngân hàng xem xét, giảm toàn bộ lãi trong hạn, lãi quá hạn và các khoản phí có liên quan cho ông T. Như đã phân tích trên, hợp đồng cho vay số: 0244/20/HĐTD/ST/DN2, ngày 03/12/2020 có hiệu lực nên buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng, đồng thời phía nguyên đơn Ngân hàng không đồng ý với đề nghị của ông T nên yêu cầu này của ông T là không có căn cứ, không được chấp nhận.

[7] Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Căn cứ vào Điều 157 và Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, ông T và bà T1 phải phải chịu số tiền là 19.816.892 đồng. Do Ngân hàng đã tạm ứng trước nên sau khi ông T, bà T1 giao nộp thì hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí.

Bị đơn ông T và bà T1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 113.615.574 đồng theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.

[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm g Khoản 1 Điều 40, Điều 92, Điều 157, Điều 158, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng 2010 và Điều 100, 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.
  • - Điều 317, Điều 318, Điều 319, Khoản 1 Điều 325, Điều 500, Điều 501, Điều 502 của Bộ luật Dân sự 2015;
  • - Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N:
    • - Buộc ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N tổng số tiền vốn và lãi tính đến hết ngày 08/4/2025 là 5.615.574.034 đồng (trong đó: nợ gốc 5.000.000.000 đồng; Lãi trong hạn: 608.962.294 đồng; Lãi quá hạn: 6.611.740 đồng).
    • - Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Hợp đồng cho vay số: 0244/20/HĐTD/ST/DN2, ngày 03/12/2020 cho đến khi thi hành án xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
    • - Khi án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng Thương mại cổ phần N có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 không thanh toán số tiền trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần N có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0242/20/HĐTC/ST/DN2 ký ngày 03/12/2020 để thu hồi nợ, gồm:
      • + Quyền sử dụng đất với diện tích: 92 m² (Mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị), tại thửa đất số 92-304 ; Tờ bản đồ 07 (TL 02/CT-UB); Địa chỉ: phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản và tài sản khác gắn liền với đất số BE 168550; Số vào sổ cấp GCN: CH02768 do UBND Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/05/2011, được chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 ngày 27/12/2018.
      • + Cùng toàn bộ công trình xây dựng trên đất chưa được công nhận quyền sở hữu (Cổng rào phía trước, kết cấu: cột bê tông, cửa rào sắt, có bảng số nhà 1 đường số A, phường A, quận B, KDC Nam H; Cổng rào phía sau, cửa có đặt tượng phật (phía trước thửa đất), có tường gạch ngăn với phần đất phía sau; Một phần căn nhà số A đường số A A, B (KDC Nam H) gồm: tầng trệt + 02 lầu + sân thượng; Kết cấu: tường gạch, nền bê tông cốt thép)
    • Toàn bộ phần đất và công trình xây dựng trên đất do ông Quách Mộc T2 đang trực tiếp quản lý, sử dụng.
    • (Kèm theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm kiểm định Bản đồ và T3, Sở T4 xác nhận ngày 29/8/2024)
  2. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, trường hợp ông T, bà T1 không có khả năng trả nợ và Ngân hàng yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì buộc ông Quách Mộc T2 có trách nhiệm giao tài sản thế chấp cho Cơ quan thi hành án có thẩm quyền để xử lý thu hồi nợ cho Ngân hàng.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Buộc ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 113.615.574 đồng.
    • - Ngân hàng Thương mại cổ phần N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.561.776 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001629 ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
  4. Về chi phí tố tụng: Buộc ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 phải liên đới chịu số tiền là 19.816.892 đồng. Do Ngân hàng Thương mại cổ phần N đã tạm ứng trước nên sau khi ông Quách Mộc T và bà Mai Thị Lệ T1 giao nộp thì hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N.
  5. Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, Điều 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND TP Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/DS-ST ngày 08/04/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 65/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger