Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY SƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03-4-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Trị

Bà Trần Thị Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Tấn Phát – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 207/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Kim C, sinh năm 1999

Trú tại: Khối A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định (Có mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Phương N, sinh năm 1991

Trú tại: Khối A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn là chị Trần Kim C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Phương N tự tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Được gia đình hai bên chấp nhận nên tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện T vào ngày 25/6/2018. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống được hơn 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: Vợ chồng không có tiếng nói chung, tính tình không hợp, anh N không có trách nhiệm với gia đình. Nay tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được. Vợ chồng thực sự cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau từ tháng 7/2021 cho đến nay nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Phương N.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Trần Hoàng O, giới tính: Nữ, sinh ngày 29/12/2014 và Nguyễn Trần Kim O1, giới tính: Nữ, sinh ngày 22/11/2016. Khi nay con chung Nguyễn Trần Hoàng O sống với chị, con chung Nguyễn Trần Kim O1 sống với anh N. Khi ly hôn, chị yêu cầu mỗi bên nuôi một con chung như khi nay, không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai bị đơn anh Nguyễn Phương N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trần Kim C tự tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Được gia đình hai bên chấp nhận nên tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện T vào ngày 25/6/2018. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống được hơn 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: Vợ chồng không có tiếng nói chung, tính tình không hợp. Nay tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được. Vợ chồng thực sự cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau từ tháng 7/2021 cho đến nay. Chị C có đơn yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý vì vợ chồng không còn tình cảm.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Trần Hoàng O, giới tính: Nữ, sinh ngày 29/12/2014 và Nguyễn Trần Kim O1, giới tính: Nữ, sinh ngày 22/11/2016. Khi nay con chung Nguyễn Trần Hoàng O sống với chị C, con chung Nguyễn Trần Kim O1 sống với anh. Khi ly hôn, chị C yêu cầu mỗi bên nuôi một con chung như khi nay, không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Sau khi ly hôn, nếu chị Trần Kim C có chồng khác mà con chung tên Nguyễn Trần Hoàng O chưa đủ 18 tuổi thì chị C giao con chung Nguyễn Trần Hoàng O cho anh nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn anh Nguyễn Phương N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 238, 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh N. Về nội dung: Áp dụng Điều 55 và 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Kim C, công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thoả thuận giữa chị Trần Kim C và anh Nguyễn Phương N. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Hoàng O cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung tên Nguyễn Trần Kim O1 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào; Về tài sản chung: không yêu cầu Toà giải quyết nên miễn xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của bị đơn anh Nguyễn Phương N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên theo quy định tại Điều 227, 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Kim C và anh Nguyễn Phương N tự tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Được gia đình hai bên chấp nhận nên tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán vào. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện T vào ngày 25/6/2018. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống được hơn 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị C: Vợ chồng không có tiếng nói chung, tính tình không hợp, anh N ăn nhậu, không lo cho vợ con. Nay tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được. Vợ chồng thực sự cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau từ tháng 7/2021 cho đến nay nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Phương N, anh N cũng đồng ý. Vì vậy, căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Kim C, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Kim C và anh Nguyễn Phương N.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Trần Hoàng O, giới tính: Nữ, sinh ngày 29/12/2014 và Nguyễn Trần Kim O1, giới tính: Nữ, sinh ngày 22/11/2016. Khi nay con chung Nguyễn Trần Hoàng O sống với chị C, con chung Nguyễn Trần Kim O1 sống với anh N. Anh N nhận trách nhiệm tiếp tục nuôi con chung Nguyễn Trần Kim O1 đến trưởng thành, chị Trần Kim C nhận trách nhiệm tiếp tục nuôi con chung Nguyễn Trần Hoàng O đến trưởng thành, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào, đây là sự tự nguyện thoả thuận của chị C, anh N nên được Hồi đồng xét xử chấp nhận. Đối với yêu cầu của anh Nguyễn Phương N: sau khi ly hôn, nếu chị Trần Kim C có chồng khác mà con chung tên Nguyễn Trần Hoàng O chưa đủ 18 tuổi thì chị C phải giao con chung Nguyễn Trần Hoàng O cho anh nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chị C không đồng ý vì con là con chung cùng có trách nhiệm nuôi con, mỗi người nuôi một con và hai bên vẫn qua lại thăm nom con bình thường nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của anh N; Anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản chung: Chị Trần Kim C và anh Nguyễn Phương N không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị C và anh N mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng chị C tự nguyện chịu 300.000 đồng nên được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003794 ngày 16/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn (đã nộp xong).

[6] Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tại phiên toà là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Trần Kim C.
  2. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Trần Kim C và anh Nguyễn Phương N.
  3. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trần Hoàng O, giới tính: Nữ, sinh ngày 29/12/2014 cho chị Trần Kim C được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành. Giao cháu Nguyễn Trần Kim O1, giới tính: Nữ, sinh ngày 22/11/2016 cho anh Nguyễn Phương N được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

    Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

    Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Kim C và anh Nguyễn Phương N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
  5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Kim C tự nguyện chịu 300.000 đồng nên được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003794 ngày 16/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn (đã nộp xong).
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao nhận hoặc được niêm yết theo quy định.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Tây Sơn;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn;
  • - UBND thị trấn Phú Phong;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lê Thị Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 65/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị C xin ly hôn anh N vì mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger