|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA Bản án số: 65/2025/HS - ST Ngày 02 - 4 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Kiên, Bà Lường Thị Khuyển.
- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/HSST ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Quàng Văn H - Sinh năm 1992 tại huyện S, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản G, xã H1, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Quàng Văn P và con bà Lò Thị M; Bị cáo đã ly hôn vợ và 02 con (Con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014); Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 115/HSST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện S xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2024, chuyển tạm giam ngày 28/12/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 55 phút ngày 18/12/2024 tổ công tác Công an xã H1 làm nhiệm vụ phòng chống ma túy tại bản G, xã H1 đã phát hiện Quàng Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ được từ túi quần bên trái phía trước đang mặc của H 01 gói nilon màu trắng bên trong có 86 viên nén màu hồng (Hoan khai nhận là Hồng phiến). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng.
Ngày 19/12/2024 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định đối với vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Doan, kết quả: 86 viên nén màu hồng có khối lượng là 8,35 gam, trích 05 viên có khối lượng 0,49 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H, vật chứng còn lại 81 viên có khối lượng 7,86 gam lưu kho ký hiệu L.
Kết luận giám định số 55/KL-KTHS ngày 21/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
+ Mẫu ký hiệu H gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,49 gam;
+ Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 8,35 gam loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra Quàng Văn H khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 18/12/2024 Quàng Văn H cầm theo 700.000 đồng đi bộ từ nhà lên đường tuần tra biên giới thuộc bản B, xã H1, huyện S để tìm mua ma túy. Trên đường tuần tra biên giới thì H gặp một người đàn ông dân tộc Mông không rõ danh tính, H hỏi mua được 86 viên Hồng phiến được gói bằng mảnh nilon màu trắng với số tiền 700.000 đồng từ người này. Đến khoảng 20 giờ 55 phút cùng ngày, khi H đang ở nhà và chuẩn bị lấy ma túy ra sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã H1 đến làm việc và phát hiện bắt qủa tang, thu giữ số ma túy như đã nêu trên.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSSM ngày 19 tháng 02 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Quàng Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quàng Văn H từ 06 năm - 06 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định cùng 01 mảnh nilon. Bị cáo được miễn phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 21 giờ 00 phút, ngày 18/12/2024 đối với Quàng Văn H cùng vật chứng bị thu giữ là 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa 86 viên nén màu hồng. Kết luận giám định số 55/KL-KTHS ngày 21/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “...Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 8,35 gam loại Methamphetamine”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/12/2024 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 8,35 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “05 năm đến 10 năm tù”.
Như vậy, nội dung Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo theo quy định của pháp luật.
[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị kết án phạt tù về tội phạm ma túy nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mời cho thấy ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.
[4] Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, mua bán chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm để thỏa mãn cơn nghiện ma túy của bản thân, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, cho bị cáo có thời gian cách ly khỏi xã hội đảm bảo cai nghiện được ma túy, cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
Đối với số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành cần và 01 mảnh nilon là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo các quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
[7] Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án: Về người đàn ông dân tộc Mông bị cáo khai là người đã bán ma túy, bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đồng thời gia đình bị cao thuộc hộ nghèo, bị cáo có đề nghị được miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Quàng Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Quàng Văn H 06 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng và 7,86 gam Methamphetamine được đựng trong 01 túi nilon màu trắng. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 0005365.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 24/QĐ – VKS ngày 17/02/2025 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/02/2025 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 02/4/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |
Bản án số 65/2025/HS - ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 65/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng
