Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 65/2025/HSST

Ngày: 27-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Lan Anh

Ông Vũ Anh Tuấn

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị Minh C, sinh năm 1960 tại tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: 75 phố L, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân [...]; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 10/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Xuân D (đã chết) và bà Vũ Thị D1 (đã chết); bị cáo có chồng là Phan Trung C1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 1986; tiền án: Ngày 02-6-2020, Toà án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, theo thời gian thử thách 05 năm (tính từ ngày 02-6-2020) về tội “Buôn bán hàng giả là phụ gia thực phẩm”; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 06-11-2006, Công an thành phố N xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền về hành vi “Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16-01-2025; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Q; Địa chỉ trụ sở: Khu công nghiệp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Bích V; chức vụ: Tổng Giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền: Công ty L và Cộng sự; Địa chỉ: tầng D số A phố N, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; Giám đốc Công ty: Ông Phạm Đức T; vắng mặt tại phiên toà do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 19-12-2024, Tổ công tác Công an thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà G đường L, phường N, thành phố N phát hiện Phạm Thị Minh C đang dắt xe mô tô nhãn hiệu Honda airblade biển kiểm soát 18H2 – 7099 từ trong nhà ra có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ 03 túi giấy màu vàng để trên yên xe, bên trong 03 túi này có tổng cộng 30 gói hạt nêm nhãn hiệu Knorr loại 900gam/1 gói; 01 túi bóng đen trong cốp xe máy có 15 gói hạt nêm nhãn hiệu Knorr loại 400gam/1 gói và 10 gói hạt nêm nhãn hiệu Knorr loại 170gam/1 gói. C khai nhận số hạt nêm trên là giả, do C tự san chiết từ bao hạt nêm 20kg vào các vỏ gói nhãn hiệu Knorr sau đó dùng bàn là điện hàn mép túi, đóng gói và chuẩn bị mang đến ki ốt của mình tại số 229 chợ M, phường T, thành phố N bán kiếm lời. Tổ công tác đã niêm phong số hàng hóa trên. Ngoài ra còn thu giữ của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20 và xe mô tô biển kiểm soát 18H2-7099.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở và ki ốt của Phạm Thị Minh C, thu giữ:

  • - 06 vỏ túi nilong in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 900gam/ 1 gói;
  • - 14 gói có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 400gam/01 gói đã thành phẩm;
  • - 01 cân đồng hồ Nhơn Hòa loại 04kg;
  • - 01 bàn là điện cầm tay Panasonic;
  • - 01 ghế gỗ;
  • - 07 bao xác rắn màu trắng in nhãn hiệu hạt nêm Family Bếp Hồng Việt loại 20kg/1 bao;
  • - 01 chậu nhựa màu đỏ đường kính 60 cm;
  • - 01 xúc nhựa màu xanh;
  • - 01 bát tô sứ màu trắng;
  • - 15 gói có vỏ bao bì in nhãn hiệu hạt nêm Knorr loại 170g/gói;
  • - 05 gói có vỏ bao bì in nhãn hiệu hạt nêm Knorr loại 400g/gói;

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thị Minh C khai nhận mặc dù không được chủ sở hữu nhãn hiệu Knorr và Công ty TNHH Q (Công ty được nhượng quyền) cho phép sát chiết, đóng gói sản phẩm nhãn hiệu Knorr nhưng C vẫn thực hiện hành vi nêu trên để bán kiếm lời.

Về nguồn gốc số bao bì nhãn hiệu Knorr, C khai mua của một người phụ nữ không quen biết với giá: loại vỏ 170g là 1.800đồng/chiếc; vỏ 400g giá 2.500đồng/chiếc; vỏ 900g giá 3.700đồng/chiếc rồi mua hạt nêm nhãn hiệu “Family bếp Hồ N” loại 20kg/bao mang về nhà san chiết, đóng gói vào các loại bao bì trên, phù hợp với khối lượng ghi trên từng bao bì. C mới bán lẻ được 12 gói hạt nêm giả cho khách không rõ lai lịch thì bị phát hiện.

Cơ quan điều tra đã lấy mẫu từ số hàng hóa đã thu giữ của C: 02 gói hạt nêm có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 900g/gói đã thành phẩm (ký hiệu M1); 02 gói hạt nêm có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 400g/gói đã thành phẩm (ký hiệu M2); 02 gói hạt nêm có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 170g/gói đã thành phẩm (ký hiệu M3) và thu thập mẫu so sánh cùng loại do Công ty TNHH Q cung cấp tương ứng về hình thức, khối lượng với các sản phẩm nêu trên lần lượt ký hiệu là S1; S2; S3 để trưng cầu giám định. Kết luận giám định số 10267/KL-KTHS ngày 07-01-2025, V2 Bộ C4 kết luận:

  • - Vỏ bao bì và các hạt bên trong 02 gói ghi hạt nêm nhãn hiệu Knorr loại 900g/ gói (ký hiệu M1) gửi giám định đều không cùng loại với vỏ bao bì và các hạt nêm bên trong của gói hạt nêm nhãn hiệu Knorr loại 900g/ gói (ký hiệu S1) do Công ty TNHH Q cung cấp làm mẫu so sánh.
  • - Vỏ bao bì và các hạt bên trong 02 gói ghi hạt nêm nhãn hiệu Knorr loại 400g/ gói (ký hiệu M2) gửi giám định đều không cùng loại với vỏ bao bì và các hạt nêm bên trong của gói hạt nêm nhãn hiệu Knorr loại 400g/ gói (ký hiệu S2) do Công ty TNHH Q cung cấp làm mẫu so sánh.
  • - Vỏ bao bì và các hạt bên trong 02 gói ghi hạt nêm nhãn hiệu Knorr loại 170g/ gói (ký hiệu M3) gửi giám định đều không cùng loại với vỏ bao bì và các hạt nêm bên trong của gói hạt nêm nhãn hiệu Knorr loại 170g/ gói (ký hiệu S3) do Công ty TNHH Q cung cấp làm mẫu so sánh.
  • - Trong các mẫu ký hiệu (M1, M2, M3) gửi giám định đều có hàm lượng kim loại nặng Asen (A), Thủy ngân (H), C2 (C), C3 (P) đạt tiêu chuẩn cho phép về hàm lượng kim loại nặng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với giới hạn ô nhiễm kim loại nặng trong thực phẩm (QCVN 8-2:2011/BYT).

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 02/KL-HĐĐGTS ngày 09-01-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận:

  • - Tại thời điểm xảy ra vụ việc, 01 gói bột có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 900g/ gói đã thành phẩm có giá trên thị trường là 65.300 đồng/ gói. 30 gói bột có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 900g/ gói đã thành phẩm có giá là: 65.300 đồng x 30 gói = 1.959.000 đồng.
  • - Tại thời điểm xảy ra vụ việc, 1 gói bột có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 400g/ gói đã thành phẩm có giá trên thị trường là 30.300 đồng/ gói. 34 gói bột có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 400g/ gói đã thành phẩm có giá là: 30.300 đồng x 34 gói = 1.030.200 đồng.
  • - Tại thời điểm xảy ra vụ việc, 1 gói bột có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 170g/ gói đã thành phẩm có giá trên thị trường là 14.100 đồng/ gói. 25 gói bột có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 170g/ gói đã thành phẩm có giá là: 14.100 đồng x 25 gói = 352.500 đồng.
  • - Tại thời điểm xảy ra vụ việc, 1 vỏ túi nilon in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 900g/ gói có giá trên thị trường là 904 đồng/ bao bì. 6 vỏ túi nilon in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hóa hạt nêm Knorr loại 900g/ gói có giá là: 904 đồng x 6 vỏ = 5.424 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 1.959.000 đồng + 1.030.200 đồng + 352.500 đồng + 5.424 đồng = 3.347.124 đồng (ba triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn một trăm hai mươi tư đồng).

Về vấn đề dân sự, trong giai đoạn điều tra, Công ty TNHH Q và đại diện chủ sở hữu nhãn hiệu Knorr không yêu cầu Phạm Thị Minh C phải bồi thường gì từ việc làm giả sản phẩm nêu trên. Tuy nhiên, ngày 24 tháng 3 năm 2025 người đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH Q và đại diện chủ sở hữu nhãn hiệu Knorr là Công ty Luật TNHH Thắng P và Cộng sự có đơn đề nghị Toà án nhân dân thành phố Nam Định giải quyết các yêu cầu bồi thường như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 204, khoản 1,2 Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ, Điều 84, Điều 86 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2023 qui định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ buộc bị cáo Phạm Thị Minh C bồi thường thiệt hại về vật chất cho chủ thể quyền với số tiền 3.314.700 đồng (ba triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm đồng) và bồi thường về uy tín, danh dự cho chủ thể quyền với số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

Bản Cáo trạng số 69/CT-VKSND-TPNĐ ngày 05-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Phạm Thị Minh C về tội “Sản xuất hàng giả là thực phẩm” quy định tại khoản 1 Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, bị cáo Phạm Thị Minh C khai nhận toàn bộ hành vi sản xuất hạt nêm giả nhãn hiệu Knorr như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 193, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Minh C phạm tội “Sản xuất hàng giả là thực phẩm”; xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 năm của Bản án số 154/2020/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • - Về việc bồi thường thiệt hại: Số lượng hạt nêm giả do bị cáo Phạm Thị Minh C sản xuất đã được thu giữ ngay tại nhà bị cáo khi bị cáo chưa đưa ra thị trường để tiêu thụ. Việc bị cáo khai có bán một số gói hạt nêm giả nhưng ngoài lời khai của bị cáo thì không có căn cứ xác nhận vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty Q.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng đã thu giữ.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là người cao tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Phạm Thị Minh C và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng cuối năm 2024, tại khu vực nhà số G L, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định, Phạm Thị Minh C sản xuất 30 gói hạt nêm giả nhãn hiệu Knorr loại 900gam/1 gói; 34 gói hạt nêm giả nhãn hiệu Knorr loại 400gam/1 gói; 25 gói hạt nêm giả nhãn hiệu Knorr loại 170gam/1 gói có tổng trị giá tương đương với số lượng của hàng thật là 3.341.700 đồng (ba triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn bảy trăm đồng). Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước và quyền lợi của người tiêu dùng, gây ảnh hưởng cho doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Sản xuất hàng giả là thực phẩm”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị Minh C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo khi phạm tội là người cao tuổi do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên bị cáo Phạm Thị Minh C phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Thị Minh C là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Toàn bộ số hạt nêm bị thu giữ là hàng giả và toàn bộ số vỏ túi nilong in sẵn nhãn hiệu Knorr, vỏ bao xác rắn in nhãn hiệu hạt nêm Family bếp Hồng V1 được sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ;
  • - Đối với các tài sản là 01 ghế gỗ; 01 xúc nhựa màu xanh; 01 bát sứ tô màu trắng (đã qua sử dụng), 07 vỏ bao xác rắn in nhãn hiệu hạt nêm Family bếp Hồng Việt loại 20kg; 01 chậu nhựa màu đỏ, đường kính khoảng 60cm bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ;
  • - Đối với 01 cân đồng hồ Nhơn Hoà loại 4kg; 01 bàn là điện cầm tay Panasonic bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A20 màu đen và 01 (một) sim điện thoại số 0948.487.xxx và 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đen BKS: 18H2-7099 bị cáo C sử dụng làm phương tiện liên lạc và đi lại hàng ngày không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

[7] Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo Phạm Thị Minh C sản xuất hàng giả hạt nêm nhãn hiệu Knorr nếu đã đưa ra thị trường tiêu thụ thì sẽ ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Tuy nhiên số lượng hạt nêm giả trên do bị cáo sản xuất đã được thu giữ ngay tại nhà bị cáo khi bị cáo chưa kịp đưa ra thị trường để tiêu thụ. Việc bị cáo khai có bán một số gói hạt nêm giả nhưng ngoài lời khai của bị cáo thì không có căn cứ xác nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty Q.

[8] Án phí: bị cáo Phạm Thị Minh C là người cao tuổi đã có đơn đề nghị miễn án phí nên căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi và Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 193, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 2 Luật Người cao tuổi và Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Minh C phạm tội “Sản xuất hàng giả là thực phẩm”.

2. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Minh C 02 (hai) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số 154/2020/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Toà án nhân dân thành phố Nam Định. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu huỷ:

  • - 28 gói có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hoá hạt nêm Knorr loại 900 gam/gói đã thành phẩm;
  • - 32 gói có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hoá hạt nêm Knorr loại 400 gam/gói đã thành phẩm;
  • - 23 gói có vỏ bao bì in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hoá hạt nêm Knorr loại 170 gam/gói đã thành phẩm;
  • - 06 vỏ túi nilong in sẵn nhãn hiệu, nhãn hàng hoá hạt nêm Knorr loại 900 gam;
  • - 07 vỏ bao xác rắn in nhãn hiệu hạt nêm Family bếp Hồng Việt loại 20 kg;
  • - 01 ghế gỗ; 01 xúc nhựa màu xanh; 01 bát sứ tô màu trắng (đã qua sử dụng), 01 chậu nhựa màu đỏ, đường kính khoảng 60cm.

3.2. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 cân đồng hồ Nhơn Hoà loại 4kg; 01 bàn là điện cầm tay P1;

3.3. Trả lại bị cáo Phạm Thị Minh C 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A20 màu đen; 01 (một) sim điện thoại số 0948.487.xxx và 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda airblade màu đen BKS: 18H2-7099.

4. Về bồi thường thiệt hại: Không chấp nhận các yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty Q.

5. Án phí: Bị cáo Phạm Thị Minh C được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Thị Minh C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Q được quyền kháng cáo nội dung liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Công an TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án + VP.

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lương Thị Kim Huế
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HSST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (sản xuất hàng giả là thực phẩm)

  • Số bản án: 65/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Sản xuất hàng giả là thực phẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án đối với bị cáo Phạm Thị Minh Ch phạm tội Sản xuất hàng giả
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger