Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/HS-ST
Ngày 05 tháng 03 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Minh Quân
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Tổ, ông Hà Văn Sơ
  • Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Tường Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2025/HSST ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Cà Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 20 tháng 6 năm 2001 tại huyện T, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Chăn, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Cà Văn T1, sinh năm 1978 và bà Quàng Thị T2, sinh năm 1978. Bị cáo có vợ là Quàng Thị H, sinh năm 2002. Bị cáo có 01 con sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/11/2024 tại Phân trại tạm giam khu vực M - Trại tạm giam Công an tỉnh S. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ ngày 04/11/2024, Cà Văn T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Blade, biển kiểm soát 26M1-158.20 chở vợ là Quàng Thị H đi từ nhà tại bản C, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La đến bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La để hái cà phê thuê. Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 04/11/2024, T đi bộ từ nương cà phê lên đường đất đi nương thuộc khu vực bản N, xã C để tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đi được 400m, Trưởng gặp và mua được của 01 người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên tuổi, địa chỉ) 01 gói ma túy được gói bằng nilon màu hồng với giá 100.000 đồng. Trưởng kiểm tra bên trong có 01 viên Hồng phiến và H1, T dùng tay bóp nát viên H2 phiến trộn lẫn Heroine rồi gói lại bằng tờ tiền polyme mệnh giá 50.000 VNĐ. Sau đó, T cầm gói ma túy ở tay phải quay lại nương cà phê để tìm chỗ sử dụng. Khi đi được 300m thì bị tổ công tác Công an xã C phát hiện, bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng: “01 gói được gói bằng tờ tiền polyme mệnh giá 50.000VNĐ, bên trong có chất bột màu trắng nghi là H1 và chất bột màu hồng nghi là Hồng phiến”.

Ngày 04/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp với Phòng K Công an tỉnh S thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng thu giữ của Cà Văn T, kết quả: Tổng khối lượng chất bột màu trắng và màu hồng có khối lượng là 0,17 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.

Tại Kết luận giám định số 2016/KL-KTHS ngày 06/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:

  • “- Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine và H1 (H3) có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/ND-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là M= 0,17 gam.
  • - Tổng khối lượng ma túy thu giữ 0,17 gam; Loại Methamphetamine và H1 (H3) có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/ND-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Tại Kết luận giám định số 2029/KL-KTHS ngày 12/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: Số tiền 50.000 VNĐ gửi giám định là tiền thật.

Tại phiên toà, bị cáo Cà Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số: 30/CT-VKS ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Cà Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo và đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015.

Xử phạt Cà Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

  • Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; vỏ phong bì cũ gửi giám định
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 50.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn. Do đó áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Cơ quan điều tra Công an huyện M, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi của bị cáo thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 10 phút ngày 04/11/2024; biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; phù hợp với kết luận giám định số 2016/KL-KTHS ngày 06/11/2024 của Phòng K công an tỉnh S; phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận không có gì mâu thuẫn, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 04/11/2024 tại bản Nà Phặng, xã C, huyện M bị cáo Cà Văn T bị công an xã C bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,17 gam Methamphetamine và Heroine mục đích để sử dụng. Đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.

[3] Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, nhận thức được việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • Bị cáo không có tiền án tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ông nội bị cáo là ông Cà Văn P được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh xác định bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với toàn bộ vật chứng đã thu giữ của bị cáo, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

Đối với 0,17 gam Methamphetamine và H1 đã trích rút hết làm mẫu giám định, không hoàn lại mẫu.

Đối với vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; vỏ phong bì cũ gửi giám định là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 50.000 đồng bị cáo sử dụng để gói ma túy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[7] Về nguồn gốc chất ma tuý: Bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) tại bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Việc trao đổi mua bán không có ai biết, chứng kiến. Ngoài lời khai của T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M không có tài liệu, chứng cứ khác để điều tra mở rộng vụ án. Buộc Cà Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 0,17 gam Methamphetamine và Heroine thu giữ trong vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

    Xử phạt bị cáo Cà Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 04/11/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.
    • Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; vỏ phong bì cũ gửi giám định (được niêm phong theo quy định)
    • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 50.000 đồng (được niêm phong theo quy định).
  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND huyện Mai Sơn;
  • - Công an huyện Mai Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự Mai Sơn;
  • - Bị cáo,
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Minh Quân

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ ngày 05 tháng 03 năm 2025, tại phòng nghị án.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Minh Q
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn T3, ông Nguyễn Đức V

Tiến hành nghị án vụ án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2025/HSST ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Cà Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 20 tháng 6 năm 2001 tại huyện T, tỉnh Sơn La. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản Chăn, xã B, huyện T, tỉnh Sơn La.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  2. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  3. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  4. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  5. Tội danh, Điều luật áp dụng và hình phạt:

    Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Tuyên bố bị cáo Cà Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

    Xử phạt bị cáo Cà Văn T tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 04/11/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  6. Về vật chứng, tài sản: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; vỏ phong bì cũ gửi giám định

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 50.000 đồng

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  7. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  8. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày để bảo đảm công tác thi hành án.

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút ngày 05 tháng 03 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 65/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cà Căn Tr - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger