TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2025/DS-ST
Ngày 27-02-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An
Ông Hà Bửu Khánh
Bà Nguyễn Hồng Cúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Trang - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang:
Không tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 368/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST- DS ngày 07 tháng 02 năm 2025. Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X - sinh năm: 1968 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức D - sinh năm: 1991 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bà Trần Trúc L - sinh năm: 1983. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị X trình bày:
Vào năm 2023, bà Nguyễn Thị X có tổ chức chơi hụi do bà X làm chủ, vợ chồng ông D và bà L có tham gia chơi 02 dây hụi, cụ thể như sau:
1. Dây hụi 1, hụi mùa, mỗi chân 3.000.000 đồng, mở hụi ngày 20/02/2023, có 21 hụi viên, mỗi năm kêu hụi 03 lần theo vụ lúa. Vợ chồng ông D và bà L tham gia chơi 01 chân, hụi kêu đến lần thứ 3 (ngày 25/8/2023), ông D và bà L đã hốt hụi được số tiền 33.300.000 đồng và đã đóng lại hụi chết được đến lần kêu hụi thứ 4. Hoa hồng mỗi kỳ kêu hụi mà chủ hụi được hưởng là 1.500.000 đồng. Hiện dây hụi này chưa kết thúc, tính đến ngày 05/11/2024, ông D và bà L đã nợ 02 kỳ đóng hụi chết, mỗi kỳ 2.000.000 đồng với số tiền là 6.000.000 đồng.
2. Dây hụi 2, hụi mùa, mỗi chân 3.000.000 đồng, mở hụi ngày 20/02/2023, có 21 hụi viên, mỗi năm kêu hụi 03 lần theo vụ lúa, vợ chồng ông D và bà L tham gia chơi 01 chân, ông D và bà L đã đóng hụi đến lần thứ 4 được số tiền 6.440.000 đồng, đến lần kêu hụi thứ 5 (ngày 7/5/2024) thì ông D và bà L không đóng hụi nữa. Hoa hồng mỗi kỳ kêu hụi mà chủ hụi được hưởng là 1.500.000 đồng. Tính đến ngày khởi kiện 05/11/2024, ông D và bà L còn nợ 02 kỳ chưa đóng, kỳ thứ 5 hụi kêu 950.000 đồng, phải đóng 2.050.000 đồng và kỳ thứ 6, 25/8/2024 hụi kêu 1.350.000 đồng, phải đóng 1.650.000 đồng. Số tiền hụi 02 lần ông D và bà L còn nợ chưa góp là 3.700.000 đồng
Nay bà X yêu cầu ông D và bà L phải trả số tiền hụi còn thiếu tạm tính đến ngày 05/11/2024 của 02 dây hụi, tổng số tiền hụi là 9.700.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
- Tại bản tự khai, bị đơn - ông Nguyễn Đức D và bà Trần Trúc L trình bày:
Ông D và bà L thừa nhận ông bà có tham gia chơi các chân hụi do bà X làm chủ hụi như bà X đã trình bày trong đơn khởi kiện là đúng, ông bà tham gia tổng cộng 02 dây hụi mùa, hiện đã hốt 01 chân hụi và còn 01 chân hụi chưa hốt và có vi phạm nghĩa vụ đóng hụi như bà X trình bày. Sau khi hốt hụi ông bà lấy vốn làm ăn nhưng bị thất bại thua lỗ, hoàn cảnh khó khăn nên không có khả năng đóng lại hụi chết và dây hụi còn sống cho bà X, xin gia hạn thời hạn trả và yêu cầu trả dần.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị X khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Đức D và bà Trần Trúc L phải trả số tiền nợ hụi còn thiếu đây là tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện G, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, T án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự, thủ tục.
Bị đơn - ông D và bà L đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng nhưng ông bà đều có đơn xin xét xử vắng mặt bận công việc, xét thấy ông bà đã có bản tự khai trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông D và bà L theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận sự việc tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng góp hụi cụ thể như sau: Bà X có mở các dây hụi, ông D và bà L trực tiếp tham gia 02 dây hụi mùa do bà X làm chủ hụi, cả 02 dây đều mở hụi ngày 20/02/2023.
Ông D và bà L thừa nhận có tham gia chơi 02 chân hụi do bà X làm chủ, ông D và bà L bà đã lĩnh 01 phần hụi vào ngày 25/8/2023, số tiền 33.300.000 đồng. Hiện ông D và bà L còn nợ tiền hụi của bà X dây hụi thứ nhất (dây hụi đã hốt) tạm tính đến ngày 05/11/2024, chân hụi chết 02 kỳ không đóng là 6.000.000 đồng và dây hụi thứ hai, áp ngày 20/02/2023 (dây hụi còn chưa hốt) tạm tính đến ngày 05/11/2024, còn 02 kỳ chưa đóng là 3.700.000 đồng. Tổng cộng nợ tiền 02 dây hụi tạm tính đến ngày 05/11/2024 là 9.700.000 đồng nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét thấy tại thời điểm giao kết các bên tự nguyện giao kết, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hợp đồng góp hụi đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
Theo thỏa thuận, khi đến kỳ đóng hụi thì thành viên tham gia chơi hụi phải có nghĩa vụ góp hụi lại chủ hụi, việc ông D và bà L đã được lĩnh hụi xong một phần nhưng ông bà không góp hụi cho bà X theo thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ của thành viên tham gia chơi hụi, bà X yêu cầu ông bà phải góp hụi là có căn cứ theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 16 và khoản 2 Điều 17 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu phường.
Quá trình tham gia chơi hụi, ông D và bà L cùng trực tiếp tham gia và thực hiện hợp đồng góp hụi nên căn cứ Điều 288 của Bộ luật Dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử buộc ông D và bà L phải cùng liên đới chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ góp hụi.
Do bà X không yêu cầu ông D và bà L phải trả lãi nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Từ những phân tích trên, xét thấy bà X khởi kiện yêu cầu ông D và bà L phải trả số tiền nợ hụi còn thiếu là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 288, Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 16 và khoản 2 Điều 17 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu phường nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc ông D và bà L phải liên đới thực hiện nghĩa vụ góp hụi cho bà X tạm tính đến ngày 05/11/2024, tổng cộng là 9.700.000 đồng.
Kể từ ngày X có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu ông D và bà L không trả đủ tiền thì ông D và bà L còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông D và bà L thừa nhận nợ nhưng do làm ăn thất bại nên xin trả dần nhưng không xác định được thời gian và cách thức thanh toán nợ, bà X không đồng ý nên sẽ được xem xét khi thi hành án.
[3] Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Do yêu cầu khởi kiện của bà X được chấp nhận toàn bộ nên hoàn trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008919 ngày 05/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng.
Buộc ông Nguyễn Đức D và bà Trần Trúc L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là: 9.700.000 đồng x 5% = 485.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 266, khoản 1 Điều 227, Điều 271, và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 288, Điều 471, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ a khoản 2 Điều 16 và khoản 2 Điều 17 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu phường;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X đối với Nguyễn Đức D và bà Trần Trúc L về tranh chấp hợp đồng góp hụi.
Buộc Nguyễn Đức D và bà Trần Trúc L phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền nợ hụi còn thiếu, tạm tính đến ngày 05/11/2024, dây hụi thứ nhất (dây hụi đã hốt) là 6.000.000 đồng và dây hụi thứ hai (dây hụi chưa hốt) là 3.700.000 đồng. Tổng cộng là 9.700.000 đồng (Chín triệu, bảy trăm nghìn đồng).
2. Về án phí: Ông Nguyễn Đức D và bà Trần Trúc L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là: 9.700.000 đồng x 5% = 485.000 đồng (Bốn trăm, tám mươi lăm nghìn đồng)
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008919 ngày 05/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, bà X được tính kể từ ngày tuyên án là ngày 27/02/2025, ông D và bà L được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 của luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thúy An |
Bản án số 65/2025/DS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi
- Số bản án: 65/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa bà X với ông D
