TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 65/2025/HSST Ngày: 25/02/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thái Hòa
2. Bà Trần Thị Hồng Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Phong P1. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: L.
Sinh năm 1983, tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Tổ A, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 9/12. Nghề nghiệp: Buôn Bán. Con ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1961. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất và chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2009, UBND huyện L, tỉnh Đồng Nai đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 24 tháng tại Trung tâm C1, tỉnh Đồng Nai (theo Quyết định số 4951/QĐ-UBND ngày 28/10/2009).
Bị bắt quả tang và bị tạm giam từ ngày 27/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lâm Văn L1. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Bé H1.
Sinh năm 1978, tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Tổ C, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 09/12. Nghề nghiệp: Không.Con ông Lâm Văn L2, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Thanh C, sinh năm 1961. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Phạm Thị Thảo L3, sinh năm 1991 và có 02 con (con sinh năm 2010 và 2013).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 09/11/2015, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “ Đánh bạc”. Chấp hành xong bản án ngày 16/4/2016.
Bị bắt quả tang và bị tạm giam từ ngày 27/8/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam B5, Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Lưu Chí H2. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không.
Sinh năm 1983, tại Đồng Nai.
Đăng ký thường trú: Tổ 1, khu phố 4, phường An Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
Nơi ở: Ấp Bình Hữu 2, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 01/12. Nghề nghiệp: phụ hồ. Con ông Lưu Chí H3, sinh năm 1960 (Đã chết) và bà Hà Thị O, sinh năm 1964. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất. Có vợ là Nguyễn Thị Ngọc H4, sinh năm 1977 và có 02 người con (con sinh năm 2005 và 2007).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang và bị tạm giam từ ngày 27/8/2024. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam B5, Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Văn L1, Lưu Chí H2 và Nguyễn Phong P1 là người sử dụng trái phép chất ma túy.
Vào lúc 07 giờ 30 ngày 27/8/2024, L1 đang ở phòng khách nhà L1 tại địa chỉ không số T, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì H2 và P1 đến chơi. P1 rủ H2 và L1 mua ma túy về để sử dụng thì cả hai đồng ý. P1 đưa cho H2 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) để đi mua ma tuý. Sau đó H2 đi bộ đến dưới chân cầu S thuộc khu phố Đ, phường P, thành phố B mua của 01 người phụ nữ tên H5 (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy với giá 100.000₫ (Một trăm nghìn đồng), H2 mang ma túy về đưa cho P1.
Sau đó, L1 lấy trong nhà ra 01 bật lửa (hộp quẹt) gas, 01 bộ sử dụng ma túy gồm: 01 nó thủy tinh, 01 chai nhựa, 01 ống hút để ra nền phòng khách. P1 đổ gói ma túy vào nỏ thủy tinh và dùng hộp quẹt ga đốt nóng nỏ thủy tinh để L1, P1, H2 cùng sử dụng ma túy. Đến 08 giờ 20 phút, ngày 27/8/2024 khi L1, P1, H2 đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì Công an phường P kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
* Tang vật thu giữ:
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút và 01 nỏ thuỷ tinh đã bị vỡ bên trong còn dính chất màu trắng) được niêm phong có chữ ký ghi rõ họ tên của Lâm Văn L1, Lưu Chí H2, Nguyễn Phong P1 và hình dấu tròn đỏ Công an phường P.
- 01 bật lửa (hộp quẹt) gas.
* Tại kết luận giám định số 1711/KL-KTHS ngày 31/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất màu trắng – đen bám dính trong 01 nỏ thủy tinh bị bể được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
* Tại các biên bản xét nghiệm ma túy đối với Lâm Văn Lộc Nguyễn Phong P1, Lưu Chí H2 cho kết quả dương tính.
Tại cáo trạng số 68/CT-VKSBH-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo: Nguyễn Phong P1, Lâm Văn L1, Lưu Chí H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Phong P1, Lâm Văn L1, Lưu Chí H2 khai nhận hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, là đúng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo điều khoản và tội danh như đã nêu trên; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo như sau:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nguyễn Phong P1, Lâm Văn L1, Lưu Chí H2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo H2 chưa có tiền án tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt:
Nguyễn Phong P1 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù; Lâm Văn L1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; Lưu Chí H2 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Phong P1, Lâm Văn L1, Lưu Chí H2 không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phong P1, Lâm Văn L1, Lưu Chí H2, phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và khung hình phạt:
Xét thấy, lời khai của bị cáo Nguyễn Phong P1, Lâm Văn L1, Lưu Chí H2 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Từ lúc 07 giờ 30 đến 08 giờ 20 phút ngày 27/8/2024, tại nhà của Lâm Văn L1 ở địa chỉ tổ C, khu phố Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, L1 cùng với Nguyễn Phong P1 và Lưu Chí H2 có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phường P phát hiện bắt quả tang.
Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Phong P1, Lâm Văn L1, Lưu Chí H2, đều dương tính với chất ma túy.
Nguyễn Phong P1 là người rủ rê, bỏ tiền ra mua ma túy. Lâm Văn L1 là người cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy. Lưu Chí H2 là người đi mua ma túy.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Phong P1, Lâm Văn L1, Lưu Chí H2 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, với tình tiết định khung hình phạt là “Đối với 02 người trở lên” như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi:
Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, mà còn là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe của bản thân và người khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo P1, L1 là người có nhân thân xấu. Nên cần áp dụng hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo H2 lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự) nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa, 01 ống hút và 01 nỏ thuỷ tinh đã bị vỡ và 01 bật lửa (hộp quẹt) gas là phương tiện, dụng cụ dùng vào việc phạm tội do không còn giá trị sử dụng; nên cần tịch thu và tiêu huỷ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
[7] Đối với người phụ nữ tên H5 (chưa rõ lai lịch) đã bán ma tuý cho Lưau Chí H6, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phong P1, Lâm Văn L1, Lưu Chí H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phong P1, Lâm Văn L1, Lưu Chí H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Phong P1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2024.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lâm Văn L1 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2024.
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lưu Chí H2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/8/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 chai nhựa, 01 ống hút, 01 nỏ thuỷ tinh đã bị vỡ và 01 bật lửa (hộp quẹt) gas.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
+ Buộc bị cáo Nguyễn Phong P1, Lâm Văn L1, Lưu Chí H2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Hùng |
Bản án số 65/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 65/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ lúc 07 giờ 30 đến 08 giờ 20 phút ngày 27/8/2024, tại nhà của Lâm Văn Lộc ở địa chỉ tổ 3, khu phố Đồng, phường Phước Tân, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Lộc cùng với Nguyễn Phong Phú và Lưu Chí Hùng có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an phường Phước Tân phát hiện bắt quả tang. Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Phong Phú, Lâm Văn Lộc, Lưu Chí Hùng, đều dương tính với chất ma túy. Nguyễn Phong Phú là người rủ rê, bỏ tiền ra mua ma túy. Lâm Văn Lộc là người cung cấp địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy. Lưu Chí Hùng là người đi mua ma túy. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Phong Phú, Lâm Văn Lộc, Lưu Chí Hùng đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, với tình tiết định khung hình phạt là “Đối với 02 người trở lên” như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân thành phố Biên Hòa đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
