TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2025/DS-PT Ngày: 18/02/2025. V/v “Tranh chấp QSDĐ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
- - Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Chí Dũng
- Ông Đinh Chí Tâm
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 18/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 547/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 38/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 671/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Lý Văn T, sinh năm 1968.
- Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- - Bị đơn: Trần Hồng T1, sinh năm 1975.
- Nơi thường trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Chỗ ở hiện nay: Khóm A, thị trấn S, huyện T - Đồng Tháp.
- Đại diện theo ủy quyền của bà T1: Nguyễn Thanh B, sinh năm 1975.
- Nơi thường trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Chỗ ở hiện nay: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Kim Thị Thúy L, sinh năm 1973 (vợ ông T);
- Lý Văn L1, sinh năm 1995 (con ông T);
- Lý Anh T2, sinh năm 1999 (con ông T);
- Đại diện theo ủy quyền của bà L, anh L1, chị T2: Lý Văn T, sinh năm 1968.
- Lý Kim Tuấn A, sinh năm 2015 (con ông T);
- Đại diện theo pháp luật của anh Tuấn A: Lý Văn T, sinh năm 1968.
- Cùng địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Thanh B, sinh năm 1975 (chồng bà T1);
- Nơi thường trú: ấp T, xã T, TP . - Đồng Tháp.
- Chỗ ở hiện nay: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Minh N, sinh năm 1997 (con bà T1);
- Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1999 (con bà T1).
- Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- - Người kháng cáo: Ông Lý Văn T là nguyên đơn của vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Lời trình bày của nguyên đơn Lý Văn T: Ông T có diện tích đất tại khu vực gần Bến xe huyện T cập đường H, thuộc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 1, diện tích 861,3m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Lý Văn T đứng tên.
Vào khoảng năm 2016 - 2017 cập phần đất ông T là đất của bà Trần Hồng T1 mua đất lại của bà H. Bà T1 xây dựng nhà kiên cố nhưng không biết như thế nào mà lại xây dựng hàng rào và sàn nhà lấn chiếm vào đất của ông T chiều ngang mặt tiền cập lộ là 5,3m.
Gần đây ông T có thuê Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T lên đo đạc, cắm lại ranh đất cho ông T. Lúc cắm ranh có mời gia đình bà T1 ra nhưng gia đình bà T1 có lời lẽ xúc phạm ông T, để cho việc xác định và đo đạc được thuận lợi nên ông T không có nói gì. Việc làm xây dựng lấn chiếm đất của gia đình bà T1 đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi và lợi ích hợp pháp của ông T. Nếu gia đình bà T1 không xây lấn chiếm đất ông T thì ông T đã bán đất được 6 đến 7 tỷ rồi. Vậy mà bà T1 còn không biết chuyện nữa, nếu biết chuyện thì phải đến gặp ông T trao đổi và thương lượng thì ông T cũng bán luôn cho bà T1, nhưng gia đình bà T1 còn có lời lẽ xúc phạm đến ông T.
Ông T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng giải quyết buộc bà Trần Hồng T1 tháo dỡ hàng rào mà bà T1 xây lấn chiếm và trả lại cho ông T diện tích 1,8m² đất thuộc một phần thửa số 11, tờ bản đồ số 1, mục đích sử dụng: đất lúa do ông T đứng tên quyền sử dụng đất.
Qua đo đạc thực tế phần đất tranh chấp diện tích là 2,0m² thuộc một phần thửa 48, tờ bản đồ số 1, mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn S, huyện T, đất do hộ ông Lý Văn T đứng tên quyền sử dụng đất.
Nay ông Lý Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Hồng T1 phải trả lại cho hộ ông T quyền sử dụng đất diện tích là 2,0m² thuộc một phần thửa 48, tờ bản đồ số 1, mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn S, huyện T và tháo dỡ toàn bộ các vật kiến trúc ra khỏi phần đất tranh chấp để trả đất cho hộ ông T. Ông T không yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản.
Lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Hồng T1 là ông Nguyễn Thanh B: Trước đây vào năm 2015 bà T1 có mua diện tích đất của bà H, đất tại khóm A, thị trấn S, huyện T, bà T1 đã hoàn thành tất cả các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sau đó bà T1 có tiến hành chuyển mục đích sử dụng đất thành đất ở. Đến năm 2018, bà T1 có xây cất nhà và xây dựng hàng rào kiên cố nhưng không một ai tranh chấp, ngăn cản không cho bà T1 xây dựng nhà hay xây dựng hàng rào. Tại sao ông T cho rằng bà T1 có xây dựng hàng rào lấn qua phần đất của ông T thì ông T không ngăn cản ngay lúc đó, mà cho đến bây giờ ông T mới đứng ra tranh chấp, hơn nữa đây là phần diện tích đất của bà T1 nhận chuyển nhượng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cho nên bà T1 chỉ xây dựng hàng rào trên chính phần đất của mình. Ông T yêu cầu bà T1 phải trả lại phần diện tích đất bà T1 xây dựng lấn qua đất của ông T là không đúng. Do đó, không đồng ý theo yêu cầu của ông T.
Nay bà Trần Hồng T1 và người đại diện theo ủy quyền của bà T1 là ông B không đồng ý trả lại đất cho hộ ông T mà đồng ý trả lại giá trị quyền sử dụng đất diện tích 2,0m² thuộc một phần thửa 48, tờ bản đồ số 1, mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn S, huyện T với giá là 30.000.000 đồng, vì hiện nay hàng rào của bà T1 đã xây dựng kiên cố, nếu tháo dỡ thì toàn bộ hàng rào sẽ bị hư hỏng, nhưng lỗi không phải do bà T1 vì khi xây dựng hàng rào thì ông T không có ngăn cản hay tranh chấp.
Lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Kim Tuấn A: Thống nhất toàn bộ theo lời trình bày và yêu cầu của ông T không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
Lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kim Thị Thúy L, anh Lý Văn L1, chị Lý Anh T2 là ông Lý Văn T: Thống nhất toàn bộ theo lời trình bày và yêu cầu của ông T không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
Lời trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh B đồng thời ông B là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Minh N, chị Nguyễn Thị Tuyết M: Ông B và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh N, chị M là thành viên trong gia đình của bà T1, qua yêu cầu của ông T, ông B, anh N, chị M thống nhất với ý kiến của bà T1 không ý kiến hay yêu cầu gì khác.
* Tại quyết định của bản án sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lý Văn T.
Buộc bà Trần Hồng T1 trả giá trị quyền sử dụng đất diện tích 2,0m² thuộc một phần thửa 48, tờ bản đồ số 1, mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn S, huyện T cho hộ ông Lý Văn T số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Giữ nguyên hiện trạng đất diện tích 2,0m² cho bà Trần Hồng T1 quản lý, sử dụng, đất do hộ ông Lý Văn T đứng tên quyền sử dụng đất, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 30-8-2022.
Phần đất, có vị trí như sau:
- Từ M7 đến M22 dài 5,67 m
- Từ M22 đến M21 đến M20 dài 5,74 m
- Từ M20 đến M7 dài 0,72 m
(Có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01-11-2023; Sơ đồ đo đạc ngày 05-12-2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T kèm theo).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Hồng T1 có nghĩa vụ chịu 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí.
Ông Lý Văn T không phải chịu án phí nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0010954 ngày 24-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Bà L, anh L1, chị T2, anh Tuấn A, ông B, anh N, chị M không phải chịu tiền án phí.
- Nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Bà Trần Hồng T1 phải có nghĩa vụ chịu 18.005.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo Hóa đơn bán hàng số: 00000602 ngày 19-12-2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ; Phiếu chi tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, do ông Lý Văn T đã thanh toán xong nên bà Trần Hồng T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Lý Văn T 18.005.000 đồng (Mười tám triệu không trăm lẻ năm nghìn đồng).
Ông Lý Văn T không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản:
Bà Trần Hồng T1 phải có nghĩa vụ chịu là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền chi phí định giá theo phiếu chi ngày 20-5-2024, do ông B (chồng bà T1) đã thanh toán xong nên không xem xét giải quyết.
Ông Lý Văn T không phải chịu chi phí định giá tài sản.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/9/2024, ông Lý Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lý Văn T vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghe ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Xét kháng cáo của ông Lý Văn T, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông Lý Văn T yêu cầu bà Trần Hồng T1 phải trả lại cho hộ ông 2,0m² đất thuộc một phần thửa 48, tờ bản đồ số 1, mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do ông đứng tên quyền sử dụng và tháo dỡ toàn bộ các vật kiến trúc trên đất để trả đất cho hộ ông T.
Mặc dù qua đo đạc thực tế, xác định phần diện tích đất tranh chấp 2,0m² là thuộc một phần thửa đất số 48, tờ bản đồ số 1, của hộ ông Lý Văn T, có nguồn gốc là của hộ ông T nhận chuyển nhượng theo hợp đồng số: 325/HĐCN ngày 22-4-2002 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22-4-2002, diện tích 750m², thửa đất 4199, tờ bản đồ số 01, mục đích sử dụng đất lúa. Đến ngày 02-6-2014 ông T có đơn xin cấp lại thửa đất trên thành thửa đất số 11, tờ bản đồ số 1, diện tích 861,2m² mục đích sử dụng đất: Đất chuyên trồng lúa nước và được cấp giấy chứng nhận ngày 19-11-2014. Đến năm 2022, ông T tách thửa đất trên thành 02 thửa gồm: thửa 47, diện tích 388,9m² và thửa 48, diện tích 472,3m², tờ bản đồ số 1, mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước. Đồng thời, bà Trần Hồng T1 cũng đã thừa nhận diện tích đất tranh chấp này là thuộc phần đất thửa số 48 của hộ ông T.
Tuy nhiên, trên phần đất tranh chấp có 02 mét vuông gạch bông, 01 đoạn hàng rào sắt xây tường dài 0,72 mét mà gia đình bà T1 đã xây dựng kiên cố từ năm 2018 và sử dụng ổn định đến nay. Khi bà T1 xây dựng các kiến trúc trên thì phía ông T không có ngăn cản hay tranh chấp, nay ông T mới phát sinh tranh chấp, là cũng có một phần lỗi của ông T. Mặt khác, diện tích đất tranh chấp có vị trí ngay phía trước mặt tiền đất và nhà của bà T1, nếu buộc bà T1 tháo dỡ hàng rào trả 2,0m² đất cho hộ ông T thì ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ của ngôi nhà và thiệt hại về chi phí bà T1 đã bỏ ra xây dựng hàng rào nhiều hơn giá trị đất tranh chấp, trong khi diện tích đất của hộ ông T còn lại nhiều và không bị ảnh hưởng đến giá trị cũng như việc sử dụng đất. Ngoài ra, nay bà T1 tự nguyện trả giá trị đối với diện tích 2,0m² đất tranh chấp cho ông T với số tiền là 30.000.000 đồng, tức bằng 15.000.000đ/m², là nhiều hơn nhiều lần so với giá đất được Hội đồng xét xử đã định, là 195.000đ/m², đồng thời bà T1 không yêu cầu được công nhận, được cấp quyền sử dụng đối với diện tích đất này, mà chỉ yêu cầu được tiếp tục sử dụng, nếu sau này Nhà nước có quy hoạch thì bà T1 giao lại cho Nhà nước quản lý, là đã có lợi và thỏa đáng đối với hộ ông T. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử giữ nguyên hiện trạng đất tranh chấp diện tích 2,0m² cho bà T1 quản lý, sử dụng và buộc bà T1 trả giá trị quyền sử dụng đất diện tích 2,0m² này cho hộ ông T theo giá tự nguyện 30.000.000 đồng, là có căn cứ và vừa hợp tình, hợp lý.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện hợp pháp của bị đơn Trần Hồng T1 có ý kiến, đồng ý trả thêm giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp cho nguyên đơn Lý Văn T 20.000.000 đồng, tổng cộng là 50.000.000 đồng (cấp sơ thẩm là 30.000.000 đồng); ông T cũng đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của đương sự và không trái pháp luật, đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử chấp nhận; sửa một phần bản án sơ thẩm; chấp nhận một phần kháng cáo của ông T.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân thủ pháp luật từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều thực hiện đúng quy định của pháp luật và không có kiến nghị. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề xuất hướng giải quyết là chấp nhận một phần kháng cáo của ông T, công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn và bị đơn; sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị trên là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
- Do sửa bản án sơ thẩm nên ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 17, 26, 31, 137, 146, 220, 236 Luật Đất đai năm 2024; các Điều 164, 166, 169, 500 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- - Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lý Văn T.
- - Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
- - Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lý Văn T.
Buộc bà Trần Hồng T1 trả giá trị quyền sử dụng đất diện tích 2,0m² thuộc một phần thửa 48, tờ bản đồ số 1, mục đích sử dụng: đất chuyên trồng lúa nước, đất tọa lạc tại khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cho hộ ông Lý Văn T với số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Giữ nguyên hiện trạng đất diện tích 2,0m² cho bà Trần Hồng T1 quản lý, sử dụng, đất do hộ ông Lý Văn T đứng tên quyền sử dụng đất, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 30-8-2022.
Phần đất, có vị trí như sau:
- Từ M7 đến M22 dài 5,67 m
- Từ M22 đến M21 đến M20 dài 5,74 m
- Từ M20 đến M7 dài 0,72 m
(Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng; Sơ đồ đo đạc ngày 05-12-2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- + Bà Trần Hồng T1 phải chịu 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- + Ông Lý Văn T không phải chịu án phí nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010954 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng.
- + Bà L, anh L1, chị T2, anh Tuấn A, ông B, anh N, chị M không phải chịu án phí sơ thẩm.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
- + Bà Trần Hồng T1 phải chịu 18.005.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo Hóa đơn bán hàng số: 00000602 ngày 19-12-2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ; Phiếu chi tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01-11-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, do ông Lý Văn T đã thanh toán xong, nên bà Trần Hồng T1 có nghĩa vụ nộp trả lại cho ông Lý Văn T 18.005.000 đồng (Mười tám triệu không trăm lẻ năm nghìn đồng).
- + Ông Lý Văn T không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Về chi phí định giá tài sản:
- + Bà Trần Hồng T1 phải chịu 1.000.000 đồng chi phí định giá. Bà T1 đã nộp và chi xong (theo Phiếu chi ngày 20/5/2024, do ông B - chồng bà T1 nộp chi).
- + Ông Lý Văn T không phải chịu chi phí định giá tài sản.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Lý Văn T không phải chịu án phí phúc thẩm, nên được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0010248 ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hồng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy |
Bản án số 65/2025/DS-PT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 65/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Nguyên đơn: Lý Văn T, sinh năm 1968. Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. - Bị đơn: Trần Hồng T1, sinh năm 1975. Nơi thường trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: Khóm A, thị trấn S, huyện T - Đồng Tháp. Đại diện theo ủy quyền của bà T1: Nguyễn Thanh B, sinh năm 1975. Nơi thường trú: Ấp T, xã T, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
