Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29/11/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phi Long

Ông Đỗ Xuân Hoài

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Nguyễn Hiếu T, sinh năm 1992; nơi cư trú: tổ A, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1992; nơi ĐKTT: tổ E, khu D, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: số nhà B, 46th Ave E, V, Canada; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Nguyễn Hiếu T trình bày:

Anh Nguyễn Hiếu T với chị Nguyễn Thị Ngọc H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 26/11/2021 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống; từ tháng 5/2024, chị H đi du lịch tại Canada và ở lại làm việc luôn, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Anh T xét thấy vợ chồng không có khả năng để khắc phục mâu thuẫn, nên yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho anh T được ly hôn với chị H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: anh T và chị H có 01 con chung là Nguyễn Đức C, sinh ngày 16/02/2022. Tại đơn khởi kiện, anh T có quan điểm xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng cho con. Nhưng do chị H có quan điểm: khi Tòa án giải quyết cho chị H và anh T ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nên anh T đồng ý cho chị H nuôi dưỡng con chung vì con chung còn nhỏ. Do hiện nay chị H vẫn đang ở Canada, anh T đề nghị Toà án tạm giao con chung cho anh T nuôi dưỡng cho đến khi chị H về Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng cho con: do chị H không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nên anh T sẽ thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con theo quy định của pháp luật và điều kiện của bản thân.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại Bản tự khai đề ngày 30/10/2024 của bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H (đã được chứng thực của T1 tại V-cu-vơ Canada ngày 30/10/2024), thể hiện:

Chị Nguyễn Thị Ngọc H đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Hiếu T vào ngày 26/11/2021 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn, có thời gian tìm hiểu nhau và tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023, thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau. Tháng 5/2024, chị H đi du lịch Canada và ở lại làm việc, vợ chồng mỗi người một nơi từ đó đến nay. Anh T có đơn xin ly hôn đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho ly hôn với chị H. Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng ngày một phai nhạt, không còn yêu thương nhau, chị H đồng ý ly hôn với anh T.

Về con chung: chị H và anh T có 01 con chung là Nguyễn Đức C, sinh ngày 16/02/2022. Chị H đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành và không cần anh Trung cấp D cho con. Hiện nay chị H vẫn đang làm việc tại Canada, chị H đề nghị Toà án tạm giao con chung cho anh T nuôi dưỡng cho đến khi chị H về Việt Nam đón con chung sang Canada.

Về tài sản chung: chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Do điều kiện chị H chưa về Việt Nam để giải quyết việc anh T xin ly hôn, chị H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hiếu T và tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; bị đơn chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1992; nơi ĐKTT: tổ E, khu D, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: số nhà B, 46th Ave E, V, Canada. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Anh Nguyễn Hiếu T và chị Nguyễn Thị Ngọc H đều vắng mặt tại phiên tòa đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Hiếu T và chị Nguyễn Thị Ngọc H tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 26/11/2021, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, anh T và chị H chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T và chị H trình bày là do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau. Từ tháng 5/2024, chị H đi du lịch Canada và ở lại làm việc, anh T và chị H sống ly thân từ đó đến nay. Anh T thấy vợ chồng không có khả năng để khắc phục mâu thuẫn, yêu cầu Toà án giải quyết cho anh T được ly hôn với chị H để ổn định cuộc sống, chị H chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, xét thấy anh T và chị H không còn sống chung, vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị H.

[2.2] Về con chung: anh Nguyễn Hiếu T và chị Nguyễn Thị Ngọc H có một con chung là Nguyễn Đức C, sinh ngày 16/02/2022. Anh T có quan điểm: khi ly hôn, yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Hiện chị H vẫn đang sinh sống và làm việc tại Canada, anh T đề nghị Tòa án tạm giao con chung cho anh T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chị H về Việt Nam thực hiện quyền nuôi con. Chị H có quan điểm phù hợp với quan điểm của anh T về phần nuôi con chung, chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con. Căn cứ quy định tại Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T đối với chị H nên chấp nhận yêu cầu, quan điểm của anh T và chị H về việc nuôi con chung như nêu trên. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: anh Nguyễn Hiếu T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị Nguyễn Thị Ngọc H, không yêu cầu Toà án giải quyết.

[3] Về án phí sơ thẩm: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Nguyễn Hiếu T phải chịu 330.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm anh T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005894 ngày 02/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hiếu T.

[1] Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Hiếu T được ly hôn chị Nguyễn Thị Ngọc H.

[2] Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị Ngọc H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Đức C, sinh ngày 16/02/2022 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Hiếu T không phải cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Hiếu T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Nguyễn Hiếu T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị Ngọc H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Nguyễn Thị Ngọc H không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì anh Nguyễn Hiếu T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Tạm giao con chung Nguyễn Đức C cho anh Nguyễn Hiếu T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi chị Nguyễn Thị Ngọc H về Việt Nam để thực hiện quyền, nghĩa vụ nuôi con.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: anh Nguyễn Hiếu T và chị Nguyễn Thị Ngọc H không yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Về án phí sơ thẩm: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Nguyễn Hiếu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm anh T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005894 ngày 02/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: anh Nguyễn Hiếu T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; chị Nguyễn Thị Ngọc H biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Bạch Đằng, Tp.
  • Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger