|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2024/HSST
Ngày: 28 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Dự
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trương Minh Mẫn
Ông Nguyễn Đình Tô
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: HÀ VĂN N (tên gọi khác: Không); sinh năm 1987, tại tỉnh: Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu G, xã M, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Hà Văn C (đã chết) và con bà: Sa Thị D – sinh năm 1963; Bị cáo có vợ là bà Dương Thị Bích H, chưa có con; tiền sự: Không.
Tiền án: 03
- Tại Bản án số 14/2009/HSST ngày 13/3/2009, Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/9/2009, chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xóa án tích.
- Tại Bản án số 02/2010/HSST ngày 25/01/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã xử phạt bị cáo 60 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 15/10/2014, chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xóa án tích.
- Tại Bản án số 07/2016/HSST ngày 20/01/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã xử phạt bị cáo 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 29/7/2023, chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2. Họ và tên: NGUYỄN BÌNH T (tên gọi khác: Không); sinh năm 1987, tại tỉnh: Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu H, xã T, huyện L, tỉnh Phú Thọ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Nguyễn Bình T1 (đã chết) va con bà: Bùi Thị H1 – sinh năm 1948; Bị cáo không có vợ con; tiền án: Không.
Tiền sự: 01
- Ngày 14/6/2024, Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng. Bị cáo chưa chấp hành.
Nhân thân:
- Tại Bản án số 03/2011/HSST ngày 28/11/2011, Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong hình phạt tù.
- Tại Bản án số 427/2008/HSST ngày 25/6/2008, Tòa án phúc thẩm tại Hà Nội, Tòa án nhân dân tối cao đã xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Che dấu tội phạm”. Ngày 15/11/2009, chấp hành xong hình phạt tù.
- Tại Bản án số 50/2013/HSST ngày 21/8/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã xử phạt bị cáo 8 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 27/3/2021, chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị H2 – sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm C1 – sinh năm 1974; địa chỉ: Số E, Quốc lộ A, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
- Bà Lê Thị M – sinh năm 1970; địa chỉ: địa chỉ: số F N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/7/2024, Hà Văn N và Nguyễn Bình T rủ nhau vào tỉnh Đắk Lắk để tìm việc làm. Đến sáng ngày 25/7/2024, N và T đến thành phố B, sau đó N và T thuê nhà nghỉ T2 tại số F đường N, phường T, thành phố B, do bà Lê Thị M, sinh năm 1970, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, là chủ quản lý. Do trước đây vào năm 2004, 2005, N có thời gian đi làm thuê tại xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nên sáng ngày 26/7/2024, N rủ T đến xã C, huyện K để tìm việc làm thì T đồng ý.
Sau đó, T xuống quầy lễ tân của nhà nghỉ gặp bà Lê Thị M để hỏi thuê chiếc xe mô tô biển số 47B2-503.13, nhãn hiệu Vision, màu sơn xanh, nâu, đen để đi công việc thì bà M đồng ý và giao xe cho T và N. Sau khi thuê được xe, T điều khiển xe chở theo N ngồi sau chỉ đường cho T, lúc đi đến đoạn đường tránh thuộc huyện C, N nói T rẽ tay trái vào đường tránh, đi được khoảng 03km, N nói với T “tao mày đi vòng vòng trên đường này, thấy nhà nào vắng thì vào lấy cắp tài sản” thì T đồng ý. Khi đi đến khu vực ngã tư, bên phải đi về hướng chợ P, huyện K, bên trái đi về hướng huyện C, N nói T rẽ về hướng huyện C có nhiều nhà dân hơn thì T điều khiển xe theo hướng dẫn của N. Đi được khoảng 04km hướng về huyện C, N và T nhìn thấy nhà của bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966, trú tại thôn T, xã C, huyện C, không có người nên T dừng xe lại rồi cả hai đứng quan sát. Tiếp đó, T điều khiển xe mô tô chở N đi vào đường đất phía bên nhà bà H2 khoảng 50m thì dừng lại.
Lúc này, N trèo qua hàng rào lưới B40 đi vào bên trong vườn nhà bà H2, còn T ở bên ngoài chờ Nghị. Khi trèo vào bên trong vườn có trồng nhiều cây ăn trái, N men theo hàng rào lưới B40 để tiếp cận nhà bà H2. Lúc này, N nhìn thấy có 01 con chó nên N tiếp tục đi dọc theo hàng rào để khuất tầm nhìn của con chó rồi trèo qua hàng rào lưới B40 đi đến cửa sắt phía sau nhà. Nghị dùng tay mở cửa nhưng không được nên N đi lại kho để xe máy kéo (xe công nông) lấy 02 con dao, một con dao dài 1,12m gác trên nhà kho, một con dao dài 65cm để trên xe máy kéo. Nghị cầm hai con dao đi lại để cạy cửa hông, nhưng khi N dùng tay cầm vào cửa giật thì cửa bung ra nên N cầm theo 02 con dao đi lên phòng khách rồi vào phòng đầu tiên lục tìm tài sản thì phát hiện và lấy được 01 tờ tiền mệnh giá 100USD trong chiếc ví rồi bỏ vào túi quần. N tiếp tục vào phòng thứ hai lục đồ để tìm tài sản nhưng không có tài sản gì. N tiếp tục đi vào phòng thứ 3 thì có 01 chiếc két sắt kính thước (79,5 x 58 x 45)cm để sát tường bên tay phải, bên trong có tủ gỗ để quần áo, N lục tìm tài sản ở trong chiếc giỏ sách có một sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng nên lấy bỏ vào túi quần. Tiếp đó, N dùng tay di chuyển chiếc két sắt ra ngoài và dùng dao cạy cửa két sắt nhưng không được nên N đi ra nhà kho lấy 01 chiếc xà beng dài 1,64m trên xe máy kéo, 01 con dao chặt dài 48cm dựng ở tường của kho rồi vào lại trong phòng dùng đầu dẹp của chiếc xà beng đưa vào khe hở của cửa két sát và bẩy mạnh thì cửa két sắt bung ra, do cửa của chiếc két sắp xập xuống nên N lấy dao rựa chèn lại rồi tìm tài sản bên trong thì có nhiều loại giấy tờ nên N lấy ra ngoài thì thấy có một xấp tiền có nhiều mệnh giá khác nhau và 01 phong bao lì xì bên trong có tiền nên N lấy bỏ vào túi quần rồi N đi ra bằng đường đã vào. Sau đó, T điều khiển xe chở N đi về, trên đường đi Nghị đưa xấp tiền mặt Việt Nam đồng, 01 phong bao lì xì bên trong có tiền, 01 sợi dây chuyền cùng 01 tờ tiền mệnh giá 100USD cho T. Lúc đi đến đoạn đường vắng, N và T dừng xe lại kiểm đếm xấp tiền đã trộm cắp thì đếm được 5.000.000 đồng, kiểm đếm trong phong bao lì xì được 1.050.000 đồng.
Khi đến chợ Đ, N và T vào ăn cơm, ăn cơm xong thì T đi bán sợi dây chuyền cho ông Phạm C1, sinh năm 1974, là chủ doanh nghiệp T3, tại số E, Quốc lộ A, chợ Đ, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, được số tiền 1.700.000 đồng, bán 01 tờ tiền 100USD được 2.500.000 đồng. Số tiền mặt và tài sản trộm cắp bán được N và T cùng nhau tiêu xài hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 chiếc két sắt màu xanh có kích thước (79,5 x 58 x 45)cm, tại thời điểm ngày 26/7/2024 có giá trị 900.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 64a/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng tại thời điểm ngày 26/7/2024 có trị giá 1.700.000 đồng.
Tại Văn bản số 0509/VCB.DLA.QP ngày 04/9/2024 của Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh tỉnh Đ - Phòng G trả lời: Tờ tiền Đô La Mỹ mệnh giá 100USD, số Sê ri: PF51976917L, năm phát hành: 2017, là tiền thật. Tỷ giá mua vào tiền mặt được cập nhật lúc 23:00 ngày 26/7/2024 theo thông báo của V1 là 25.091 VNĐ/USD. Tổng giá trị quy đổi 100USD sang đồng Việt Nam là 2.509.100 đồng
Đối với bà Lê Thị M (chủ nhà nghỉ T2) là người đã cho các bị cáo thuê xe mô tô biển số 47B2-503.13. Khi cho thuê, bà M không biết các bị cáo sử dụng xe mô tô của mình làm phương tiện phạm tội, bà M cũng không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CưM'gar không đề cập xử lý đối với bà Lê Thị M.
Đối với ông Phạm C1 là người mua vàng và 01 tờ Đô La của các bị cáo: Khi mua ông C1 không biết đây là tài sản phạm tội mà có. Ông C1 không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CưM'gar không đề cập xử lý đối với ông Phạm Cường .
Về hành vi bán ngoại tệ của bị cáo Nguyễn Bình T và hành vi mua ngoại tệ của ông Phạm C1, là chủ doanh nghiệp T3, tại số E, Quốc lộ A, chợ Đ, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (đối với 01 tờ tiền Đô La Mỹ mệnh giá 100USD) vào ngày 26/7/2024 đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị định 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ, quy định xử phạt hành chính trong lĩnh tiền tệ và Ngân hàng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chuyển hồ sơ vi phạm hành chính đến Công an xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để xử phạt hành chính theo thẩm quyền.
Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Hà Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị cáo Nguyễn Bình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn N, Nguyễn Bình T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Văn N, Nguyễn Bình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Hà Văn N mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Bình T mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại bà Nguyễn Thị H2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường về dân sự nên không đề cập giải quyết.
Ông Phạm C1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Bình T hoàn trả lại số tiền 2.500.000 đồng là số tiền ông C1 đã mua sợi dây chuyền mà T bán cho ông. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của ông C1, buộc bị cáo N, T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông C1 số tiền 2.500.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Ngày 29/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ban hành Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại: 01 con dao dài 112cm, lưỡi dao dài 30cm; 01 con dao dài 48cm, lưỡi dao dài 32cm; 01 con dao rựa dài 65cm, lưỡi dao dài 28cm; 01 xà beng dài 164cm, một đầu nhọn, một đầu dẹp; 01 tờ tiền giấy, loại tiền Đô La Mỹ mệnh giá 100USD; 01 chiếc ví màu nâu, đen, kích thước (10 x 20)cm; 01 chiếc túi xách màu Đen, có hai dây đeo màu đen, trên túi xách có chữ “Aimilt” được làm bằng kim loại; 01 tờ tiền giấy, loại tiền Đô La M mệnh giá 100USD, cho bà Nguyễn Thị H2, là chủ sở hữu hợp pháp. Trả lại: 01 xe mô tô biển số 47B2-503.13, nhãn hiệu Vision, màu sơn xanh, nâu, đen; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 102296, cho bà Lê Thị M là chủ sở hữu hợp pháp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận
Đối với 01 chiếc két sắt màu xanh, kích thước (79,5 x 58 x 45)cm, là tài sản của bà Nguyễn Thị H2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại cho bà Nguyễn Thị H2, là chủ sở hữu hợp pháp.
Các bị cáo không bào chữa, tranh luận gì, mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của thủ tục tố tụng về thu thập tài liệu chứng cứ của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và hình phạt:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai mà các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 26/7/2024, tại nhà của bà Nguyễn Thị H2 ở thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, Hà Văn N và Nguyễn Bình T đã thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 6.050.000 đồng, 01 sợi dây chuyền bằng kim loại vàng trị giá 1.700.000 đồng và 01 tờ tiền 100USD (100 Đô La M) trị giá 2.509.100 đồng. Tổng giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp bà Nguyễn Thị H2 là 10.259.100 đồng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Hà Văn N đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm” chưa được xóa án tích. Do đó, bị cáo phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự định:
- Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm
g, Tái phạm nguy hiểm
...”
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hà Văn N, Nguyễn Bình T là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo nhận thức được tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đều bị trừng trị thích đáng. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét trong vụ án này các bị cáo phạm tội với tính chất, mức độ hành vi phạm tội khác nhau nên Hội đồng xét xử cần đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mỗi bị cáo, trên cơ sở đó cụ thể hoá mức hình phạt đối với từng bị cáo cho phù hợp
[3.1] Bị cáo Hà Văn N
là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã có tiền án về các tội xâm phạm sở hữu nhưng bị cáo không tu dưỡng rèn luyện và tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo, do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo là người dân tộc thiểu số đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử cần áp dụng khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
[3.2] Bị cáo Nguyễn Bình T
là sau khi được bị cáo N rủ rê thì đã đồng ý và thực hiện hành vi cảnh giới giúp sức cho bị cáo N, bị cáo T là người trực tiếp đi bán tài sản do bị cáo N trộm cắp mà có được. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xét xử nhiều lần nhưng bị cáo không tu dưỡng rèn luyện và tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo, do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định có như vậy mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[3] Đối với hành vi phá kết sắt
của bị cáo Hà Văn N có dấu hiệu của tội Hủy hoại tài sản nhưng giá trị hư hoại của của kết sắt là 900.000 đồng do đó chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Huỷ hoại tài sản” theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự do đó Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện C không đề cập xử lý hình sự mà đề nghị Công an huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi hủy hoại tài sản của bị cáo là phù hợp.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra người bị hại bà Nguyễn Thị H2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không xem xét giải quyết
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm C1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Bình T bồi thường số tiền 2.500.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông C1 là có căn cứ, tại phiên tòa bị cáo Hà Văn N, Nguyễn Bình T đồng ý bồi thường số tiền 2.500.000 đồng cho ông C1 nên cần chấp nhận yêu cầu của ông C1 buộc các bị cáo N, T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông C1 số tiền 2.500.000 đồng, cụ thể: Bị cáo N bồi thường số tiền 1.250.000 đồng, bị cáo T bồi thường số tiền 1.250.000 đồng
[4] Về xử lý vật chứng:
Ngày 29/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ban hành Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại: 01 con dao dài 112cm, lưỡi dao dài 30cm; 01 con dao dài 48cm, lưỡi dao dài 32cm; 01 con dao rựa dài 65cm, lưỡi dao dài 28cm; 01 xà beng dài 164cm, một đầu nhọn, một đầu dẹp; 01 tờ tiền giấy, loại tiền Đô La Mỹ mệnh giá 100USD; 01 chiếc ví màu nâu, đen, kích thước (10 x 20)cm; 01 chiếc túi xách màu Đen, có hai dây đeo màu đen, trên túi xách có chữ “Aimilt” được làm bằng kim loại; 01 tờ tiền giấy, loại tiền Đô La M mệnh giá 100USD, cho bà Nguyễn Thị H2, là chủ sở hữu hợp pháp. Trả lại: 01 xe mô tô biển số 47B2-503.13, nhãn hiệu Vision, màu sơn xanh, nâu, đen; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 102296, cho bà Lê Thị M là chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử cần xem xét chấp nhận.
Đối với 01 chiếc két sắt màu xanh, kích thước (79,5 x 58 x 45)cm, là tài sản của bà Nguyễn Thị H2 nên Hội đồng xét xử cần xem xét trả lại cho bà Nguyễn Thị H2.
[5] Về án phí:
Về án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn N, bị cáo Nguyễn Bình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo HÀ VĂN N 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 31/7/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo NGUYỄN BÌNH T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 31/7/2024.
-
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589 Bộ luật dân sự.
Buộc các bị cáo Hà Văn N, Nguyễn Bình T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Phạm C1 số tiền 2.500.000 đồng, chia theo phần cụ thể: Bị cáo Hà Văn N phải bồi thường số tiền 1.250.000 đồng, bị cáo Nguyễn Bình T bồi thường số tiền 1.250.000 đồng
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại: 01 con dao dài 112cm, lưỡi dao dài 30cm; 01 con dao dài 48cm, lưỡi dao dài 32cm; 01 con dao rựa dài 65cm, lưỡi dao dài 28cm; 01 xà beng dài 164cm, một đầu nhọn, một đầu dẹp; 01 tờ tiền giấy, loại tiền Đô La Mỹ mệnh giá 100USD; 01 chiếc ví màu nâu, đen, kích thước (10 x 20)cm; 01 chiếc túi xách màu đen, có hai dây đeo màu đen, trên túi xách có chữ “Aimilt” được làm bằng kim loại; 01 tờ tiền giấy, loại tiền Đô La M mệnh giá 100USD, cho bà Nguyễn Thị H2, là chủ sở hữu hợp pháp. Trả lại: 01 xe mô tô biển số 47B2-503.13, nhãn hiệu Vision, màu sơn xanh, nâu, đen; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 102296, cho bà Lê Thị M là chủ sở hữu hợp pháp.
Trả cho bà Nguyễn Thị H2 01 chiếc két sắt màu xanh, kích thước (79,5 x 58 x 45)cm
(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk, đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2024).
-
Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Hà Văn N, Nguyễn Bình T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Các bị cáo Hà Văn N, Nguyễn Bình T, mỗi bị cáo phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Dự |
Bản án số 65/2024/HSST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 65/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
