Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI LỘC

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 19-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Nhựt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Sinh.

Ông Nguyễn Đình Bạn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Trang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS, ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Thị L, sinh năm 1988, tại huyện N, tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Xuân V (đã chết) và bà Đào Thụy L1 (sinh năm 1967); chồng Mai Văn V1, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 22/4/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Nông Sơn xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 04/2024/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/4/2024 đến ngày 03/5/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

* Người bị hại:

  1. Bà Phan Thị Thu S, sinh năm: 1974. Địa chỉ: khu P, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Có đơn xin xét xử vắng mặt;
  2. Bà Lê Thị Hiền G, sinh năm: 1999. Địa chỉ: khu P, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Có mặt;
  3. Ông Văn Quý Đ, sinh năm: 1982. Địa chỉ: khu N, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong năm 2020, bị cáo Hồ Thị L vay tiền của công ty T để tiêu xài cá nhân, đến tháng 4/2024 công ty tài chính yêu cầu bị cáo L trả tiền mà bị cáo L đã vay, do chưa có tiền trả nợ nên bị cáo L nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác để trả nợ và tiếp tục tiêu xài cá nhân. Bị cáo L đã thực hiện 05 lần chiếm đọat tài sản, cụ thể các lần như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 28/4/2024, bị cáo Hồ Thị L đi xe ôm của một người (không rõ nhân thân lai lịch) từ huyện N, tỉnh Quảng Nam đến ngã tư Á thuộc khu N, thị trấn Á, huyện Đ, bị cáo nhìn thấy cửa hàng điện thoại ĐQ Mobile của anh Văn Quí Đ1 (sinh năm 1981, trú tại khu N, thị trấn Á, huyện Đ) nên giả vờ vào cửa hàng mua phụ kiện điện thoại. Khi bị cáo vào cửa hàng điện thoại ĐQ Mobile thì gặp anh Đ1, bị cáo hỏi mua tai nghe bluetooth và dây sạc điện thoại di động, anh Đ1 lấy một số mẫu ra cho bị cáo xem và tư vấn cho bị cáo chọn mua hàng. Lúc này, bị cáo nói dối “đang có việc cần tiền trong tài khoản ngân hàng để chuyển khoản cho chồng làm bên xây dựng trả tiền công cho thợ nên nhờ anh Đ1 chuyển giúp số tiền 2.300.000 đồng vào tài khoản của chị”, anh Đại đồng Ý sử dụng điện thoại di động vào ứng dụng Internet Banking chuyển tiền từ số tài khoản 0976934430 mở tại ngân hàng S1 của anh Đ1 đến số tài khoản 1012823083 mở tại ngân hàng V2 của bị cáo với số tiền 2.300.000 đồng. Sau khi có được tiền do anh Đ1 chuyển thì bị cáo chuyển trả cho nhân viên công ty T và nói dối chờ chồng bị cáo về nhà lấy tiền rồi mang tiền đến cửa hàng trả cho anh Đ1. Một lúc sau, bị cáo tiếp tục nói dối “chồng bị cáo cần thêm số tiền 2.700.000 đồng, nhờ anh chuyển thêm vào tài khoản bị cáo”, anh Đại đồng Ý chuyển vào tài khoản của bị cáo số tiền 2.700.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, bị cáo chuyển trả cho nhân viên công ty T và nói dối “chờ thêm một lát nữa, chồng bị cáo về nhà lấy tiền rồi sẽ mang đến trả cho anh”. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo nói dối “chồng bận việc, không đến được, bị cáo gọi xe ô tô dịch vụ đón bị cáo về” và bị cáo lấy từ trong túi xách ra một hộp nhựa màu đỏ, bên trong hộp nhựa có một sợi chuyền bằng kim loại màu vàng là sợi dây chuyền bằng vàng giả và nói dối với anh Đ1 “đây là sợi dây chuyền bằng vàng mới mua, trọng lượng 02 chỉ”, bị cáo đưa cho anh Đ1 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng này để anh Đ1 giữ làm tin, bị cáo sẽ quay lại cửa hàng trả số tiền mà anh Đ1 đã chuyển khoản cho bị cáo và nhận lại sợi dây chuyền vàng. Lúc này, anh Đ1 không kiểm tra, tin tưởng cầm sợi dây chuyền và để bị cáo ra về. Ngày 25/6/2024, không thấy bị cáo quay lại trả tiền, anh Đ1 kiểm tra sợi dây chuyền mà bị cáo đưa trước đó phát hiện là sợi dây chuyền bằng vàng giả nên đến báo Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ điều tra làm rõ vụ việc.

Cùng với phương thức thủ đoạn trên, khoảng 09 giờ ngày 29/04/2024, bị cáo Hồ Thị L đi xe ôm (không rõ nhân thân lai lịch) từ địa bàn huyện N đến thị trấn Á, huyện Đ, bị cáo nhìn thấy tiệm V3 thuộc khu P, thị trấn Á, huyện Đ nên vào tiệm vàng mua trang sức. Khi vào tiệm vàng, bị cáo gặp Lê Thị Hiền G (sinh năm 1999, trú tại khu P, thị trấn Á, huyện Đ) là chủ tiệm vàng. Tại đây, bị cáo chọn một đôi bông tai bằng vàng đeo thử và bị cáo nói dối với chị G “chồng chở đến mua vàng nhưng có việc đột xuất phải đi mà hiện giờ đang cần số tiền 3.000.000 đồng để trả tiền vé máy bay và lát nữa chồng đến đón thì sẽ trả tiền mua vàng và trả lại tiền cho chị”, G đồng ý và sử dụng điện thoại di động vào ứng dụng Internet Banking, chuyển tiền từ số tài khoản 5657777268 mở tại ngân hàng V2 của chị G đến số tài khoản 1012823083 mở tại ngân hàng V2 của bị cáo với số tiền 3.000.000 đồng. Bị cáo chuyển khoản số tiền 2.900.000 đồng để trả nợ cho nhân viên Công ty T. Sau đó, bị cáo ngồi chơi nói chuyện với G đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, bị cáo tiếp tục nói dối với chị G “nhờ chị chuyển khoản số tiền 4.300.000 đồng để mua phụ tùng xe cơ giới, khi chồng đến đón tôi sẽ trả luôn một lần”, G đồng ý và chuyển khoản cho bị cáo số tiền 4.300.000 đồng, phương thức chuyển tiền như trên. Bị cáo nhận được tiền và chuyển số tiền 4.300.000 đồng để trả nợ cho nhân viên Công ty T rồi tiếp tục ngồi chơi nói chuyện với G. Đến khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, G vào bên trong nhà để nghỉ, bà Phan Thị Thu S (sinh năm 1974, trú tại khu P. thị trấn Á, huyện Đ, là mẹ ruột của chị G) thay G đứng bán ở tiệm, bị cáo tiếp tục nói chuyện với bà S. Đến khoảng hơn 15 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo tiếp tục nói dối bà S “chuyển khoản giúp số tiền 12.000.000 đồng vào tài khoản của bị cáo để mua phụ tùng sửa chữa xe cơ giới liên quan đến công việc của chồng, khi nào chồng đến đón sẽ trả hết tiền đã nhờ chuyển khoản và tiền mua trang sức”, bà S đồng ý nhờ G sử dụng điện thoại di động vào ứng dụng Inter Banking của ngân hàng A, dùng tài khoản số 4205231007770 do bà Phan Thị Thu S là chủ tài khoản chuyển số tiền 12.000.000 đồng đến số tài khoản của bị cáo. Bị cáo nhận tiền rồi chuyển số tiền 11.700.000 đồng để trả nợ cho nhân viên Công ty T. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, chị G nghi ngờ bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị nên đến báo cáo Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ điều tra làm rõ vụ việc.

Tại bản kết luận giám định số 1553/KL-KTHS của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng xác định: 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng có kim loại đồng, kẽm và niken, hàm lượng từng kim loại là đồng 70,5%, kẽm 25,6 %, niken 3,9%, khối lượng mẫu là 9,82 gam.

* Về vật chứng tạm giữ:

  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng hồng, số seri F2RQPM16GRX5, số IMEI 35328007807531, có gắn Sim số 03334970755 của bị cáo Hồ Thị L.
  • 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, loại mắc xích, 01 hộp nhựa màu đỏ cam, trên nắp hộp có dòng chữ “vàng bạc đá quý” màu vàng.
  • Số tài khoản 1012823083, chủ tài khoản: Hồ Thị L mở tại Ngân hàng TMCP N (V2), đang bị phong tỏa.

* Về trách nhiệm dân sự: bị hại ông Văn Quí Đ1, Lê Thị Hiền G và Phan Thị Thu S yêu cầu bị cáo trả lại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt.

Tại bản Cáo trạng số: 42/CT-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc đã truy tố bị cáo Hồ Thị L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Hồ Thị L từ 36 đến 42 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ (được quy đổi thành 02 tháng tù) của Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Sơn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 30/4/2024). Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử lý các vật chứng sau:

  • Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng hồng, số seri F2RQPM16GRX5, số IMEI 35328007807531, có gắn Sim số 03334970755 là công cụ phạm tội.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, loại mắc xích, 01 hộp nhựa màu đỏ cam, trên nắp hộp có dòng chữ "vàng bạc đá quý” màu vàng là vật chứng của vụ án.
  • Hủy bỏ lệnh phong tỏa số 139/LPT-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đối với số tài khoản 1012823083, mở tại Ngân hàng TMCP N (V2) của Hồ Thị L. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước toàn bộ số dư của tài khoản này (nếu còn tại thời điểm thi hành án). Đề nghị Ngân hàng TMCP N (V2) có trách nhiệm thu hồi và khóa (đóng) đối với số tài khoản 1012823083, mở tại Ngân hàng TMCP N (V2) của Hồ Thị L vì đây là phương tiện để bị cáo thực hiện giao dịch trái pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Thị L khai nhận: Do trong năm 2020, bị cáo có vay tiền của công ty T để tiêu xài cá nhân, đến tháng 4/2024 công ty T yêu cầu bị cáo trả tiền nhưng do bị cáo không có tiền trả nên nảy sinh ý định dùng thủ đoạn gian dối làm cho bị hại tin tưởng, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Bị cáo đã thực hiện 05 lần chiếm đoạt tài sản như sau:

  • Ngày 28/4/2024, tại cửa hàng điện thoại ĐQ Mobile của anh Văn Quí Đ1, bị cáo đóng vai người mua hàng, nói dối với anh Đại để anh Đ1 thực hiện chuyển tiền qua số tài khoản của bị cáo 02 lần, lần 01 chuyển số tiền 2.300.000 đồng, lần 02 chuyển số tiền 2.700.000 đồng, sau đó bị cáo dùng sợi dây chuyền vàng giả cầm cố để tạo niềm tin với anh Đại Đ2 chiếm đoạt số tiền trên, sau khi chiếm đoạt bị cáo chuyển khoản trả nợ cho nhân viên công ty T.
  • Ngày 29/04/2024, tại tiệm V3 thuộc khu P, thị trấn Á, huyện Đ, bị cáo đóng vai người mua vàng, dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Lê Thị Hiền G, bà Phan Thị Thu S là chủ tiệm vàng 03 lần, lần thứ nhất 3.000.000 đồng, lần thứ 2 số tiền 4.300.000 đồng, lần thứ 3 số tiền 12.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của bị cáo, sau đó bị cáo chiếm đoạt số tiền trên và chuyển khoản trả nợ cho nhân viên công ty T.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Hồ Thị L tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố cũng như phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để khẳng định hành vi dùng thủ đoạn gian dối, làm cho người khác tin tưởng chuyển tiền cho bị cáo, sau đó bị cáo chiếm đoạt số tiền trên. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của 03 bị hại là 24.300.000 đồng. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, đã thực hiện 05 lần phạm tội, lấy tài sản có được làm nguồn sống chính và tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo Hồ Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Lộc đã truy tố bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và trách nhiệm của bị cáo thì thấy: Quyền sở hữu tài sản là một quyền cơ bản của công dân, được pháp luật bảo vệ. Việc bị cáo dùng thủ đoạn gian dối, làm cho người khác tin tưởng giao tài sản của mình cho bị cáo, sau đó bị cáo chiếm đoạt tài sản, dùng tài sản của người khác để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, coi thường pháp luật. Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và biết được rằng quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật thừa nhận và bảo vệ nhưng do lười lao động nên bị cáo xem thường pháp luật, bằng thủ đoạn gian dối để thực hiện chiếm đoạt tài sản của người khác với mong muốn có được tài sản để sử dụng, tiêu xài cá nhân. Do đó, cần phải xử mức án thật nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại được số tiền 3.000.000 đồng, do số tiền khắc phục nhỏ chỉ chiếm 1/8 so với số tiền chiếm đoạt nên HĐXX chỉ xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, không lấy đó làm bài học để tự răn mình mà tiếp tục phạm tội mới, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm khắc đồng thời cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện được cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội theo như đề nghị của Kiểm sát viên.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo L thống nhất bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại Văn Quí Đ1, Lê Thị Hiền G và Phan Thị Thu S tổng số tiền 24.300.000 đồng, gia đình bị cáo đã bồi thường được số tiền 3.000.000 đồng cho chị Lê Thị Hiền G, số tiền còn lại là 21.300.000 đồng buộc bị cáo phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho các bị hại trên. Cụ thể, bồi thường cho anh Văn Q Đại số tiền 5.000.000 đồng, bồi thường cho chị Lê Thị Hiền G số tiền 4.300.000 đồng, bồi thường cho bà Phan Thị Thu S số tiền 12.000.000 đồng.

[7] Về các vấn đề khác có liên quan:

  • Bị cáo Hồ Thị L khai nhận sau khi chiếm đoạt được số tiền trên bị cáo chuyển khoản trả nợ cho nhân viên công ty T gồm các số tài sản đứng tên SAM MINH VAY; DƯƠNG NGỌC L2; HUANG YU CHENG. Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã có văn bản đề nghị các Ngân hàng liên quan cung cấp thông tin của các chủ tài khoản trên nhưng hiện nay chưa có kết quả. Xét thấy, việc tách ra để xử lý sau khi có đầy đủ thông tin đến các tài khoản trên là phù hợp nên HĐXX không đề cập giải quyết.
  • Đối với bị cáo Hồ Thị L hiện nay không có nghề nghiệp ổn định, mục đích chiếm đoạt tài sản là để trả nợ do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng hồng, số seri F2RQPM16GRX5, số IMEI 35328007807531, có gắn Sim số 03334970755 là vật chứng của vụ án, xét thấy còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • Đối với 01 sợi dây chuyển bằng kim loại màu vàng, loại mắc xích, 01 hộp nhựa màu đỏ cam, trên nắp hộp có dòng chữ “vàng bạc đá quý” màu vàng, là vật chứng của vụ án, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với số tài khoản 1012823083 của bị cáo Hồ Thị L mở tại Ngân hàng TMCP N (V2), hiện đang được phong tỏa, đây là phương tiện để bị cáo thực hiện giao dịch trái pháp luật. Vì vậy, cần hủy bỏ lệnh phong tỏa số 139/LPT-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đối với số tài khoản 1012823083, mở tại Ngân hàng TMCP N (V2) của Hồ Thị L. Sung vào Ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền còn lại của tài khoản này đồng thời thực hiện việc khóa (đóng) đối với số tài khoản trên.

[9] Về án phí: Bị cáo Hồ Thị L phải chịu án hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 38, 55, 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về trách nhiệm hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Hồ Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Hồ Thị L 03 (Ba) năm tù. Tổng hợp hình phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ của Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nông Sơn (được quy đổi thành 02 tháng tù). Buộc bị cáo Hồ Thị L phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 (Ba) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (Ngày 30/4/2024).

  2. Về trách nhiệm dân sự:

    Buộc bị cáo Hồ Thị L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Văn Q Đại số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng; bồi thường thiệt hại về tài sản cho chị Lê Thị Hiền G số tiền 4.300.000 (Bốn triệu ba trăm ngàn) đồng; bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Phan Thị Thu S số tiền 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng. Tổng số tiền bị cáo Hồ Thị L phải bồi thường cho các bị hại là 21.300.000 đồng.

    Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bị cáo Hồ Thị L không thực hiện nghĩa vụ bồi thường nêu trên thì hằng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
    • Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu vàng hồng, số seri F2RQPM16GRX5, số IMEI 35328007807531, có gắn Sim số 03334970755.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, loại mắc xích, 01 hộp nhựa màu đỏ cam, trên nắp hộp có dòng chữ “vàng bạc đá quý” màu vàng.

      (Các vật chứng này hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 30/8/2024).

    • Hủy bỏ lệnh phong tỏa số 139/LPT-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đối với số tài khoản 1012823083, mở tại Ngân hàng TMCP N (V2) của Hồ Thị L. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền còn lại của tài khoản này (nếu còn tại thời điểm thi hành án). Đề nghị Ngân hàng TMCP N (V2) có trách nhiệm thực hiện việc thu hồi và khóa (đóng) đối với số tài khoản 1012823083, mở tại Ngân hàng TMCP N (V2) của Hồ Thị L.
  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Thị L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.065.000 (Một triệu, không trăm sáu mươi lăm ngàn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/11/2024), bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND huyện Đại Lộc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đại Lộc;
  • - Cơ quan T.H.A HS Công an H. Đại Lộc;
  • - Bộ phận HSNV Công an huyện Đại Lộc;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện Đại Lộc;
  • - Bị cáo, bị hại, người liên quan;
  • - Lưu HS, án văn, T.H.A.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Tấn Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Thị Lanh lừa đảo chiếm đoạt có tính chất chuyên nghiệp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger