|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 65/2024/HS-PT Ngày 13 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thùy Hương |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Quang Vũ |
| Ông Bùi Xuân Trường |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 do có kháng cáo các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Huỳnh Văn P1 đối với Bản án hình sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo có kháng cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Văn T (tên gọi khác: không); Sinh ngày: 12/02/1982; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn L, sinh năm 1942; Mẹ đẻ: Hoàng Thị T1, sinh năm 1947; Vợ: Đinh Thị Minh H1, sinh năm 1983; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2006;
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lập xử phạt 8.000.000đ về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt ngày 18/4/2018.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/4/2024 đến ngày 11/4/2024. Hiện bị cáo đang thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
-
Họ và tên: Đinh Văn P (tên gọi khác: không); Sinh ngày: 15/01/1982; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Bố đẻ: Đinh Văn C đã chết; Mẹ đẻ: Trần Thị T2, sinh năm 1950; Vợ: Đinh Thị Thu H2, sinh năm 1984: Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2021;
Tiền án: Không. Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/4/2024 đến ngày 11/4/2024. Hiện bị cáo đang thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
-
Họ và tên: Đinh Văn H (tên gọi khác: không); Sinh ngày: 20/7/1992; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Xóm M, xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Bản H, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Bố đẻ: Đinh Văn C1, sinh năm 1957; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1960. Hiện bố mẹ ở Khu L, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Vợ: Bùi Thị L1, sinh năm 1996; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/4/2024 đến ngày 11/4/2024. Hiện bị cáo đang thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
- Bị cáo bị kháng nghị:
Họ và tên: Huỳnh Văn P1 (tên gọi khác: không); Sinh ngày: 30/3/1987; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 5/12; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Bố đẻ: Huỳnh Văn P2, sinh năm 1962; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1964; Vợ Nguyễn Thị Thanh G, sinh năm 1985; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/4/2024 đến ngày 11/4/2024, Hiện bị cáo đang thi hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Văn H: Ông Lã Thành C2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
(Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập đến phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 05/4/2024, Nguyễn Văn T (Sinh năm 1982; thường trú: khu Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ) đến nhà anh Đinh Văn D để làm cỗ đám cưới. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, sau khi ăn cỗ xong Tuất ra bàn ngồi uống nước cùng Huỳnh Văn P1, Đinh Văn H và Đinh Văn P, là những người cùng tham dự tiệc cưới tại nhà anh D. Tại đây, T rủ P1, P và H cùng lên mái nhà anh D để đánh bạc bằng hình thức đánh “Ba cây” được thua bằng tiền (nhà anh D là nhà xây mái bằng có tum đi ra mái). H, P1 và P đều đồng ý. Tuất lấy 01 bộ bài gồm 36 quân bài từ A đến 9 của bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở góc rạp đám cưới nhà anh D đưa cho H cầm lên trên mái nhà anh D để đánh bạc còn P đi ra phía sau nhà anh D nhặt 01 chiếc chiếu màu vàng, xanh đã cũ ném lên mái nhà anh D để ngồi đánh bạc. Khi H, T, P đang ở trên mái thì P1 thấy trên mái nhà anh D có người nên đi lên để cùng tham gia đánh bạc. Khi T, P, H, P1 đang đánh bạc thì có Phạm Văn H4, Đinh Văn T4, Phùng Văn X (đều khách đến ăn cưới nhà anh D) thấy có người trên mái nên cũng đi lên và tham gia đánh bạc cùng các đối tượng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày khi các đối tượng trên đang đánh bạc thì bị Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ đồ vật, tài sản như đã nêu trên.
Về số tiền dùng để đánh bạc, các đối tượng khai nhận: Đinh Văn H sử dụng số tiền 2.700.000đ, Phùng Văn X sử dụng số tiền 1.100.000đ, Huỳnh Văn P1 sử dụng số tiền 260.000đ, Nguyễn Văn T sử dụng số tiền 2.130.000đ, Phạm Văn H4 sử dụng số tiền 520.000đ, Đinh Văn P sử dụng số tiền 1.000.000đ, Đinh Văn T4 sử dụng số tiền 650.000đ. Quá trình đánh bạc các đối tượng chưa kiểm đếm nên không biết thắng thua ra sao. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 8.360.000đ, phù hợp với số tiền trên chiếu bạc khi Cơ quan CSĐT – Công an huyện T bắt quả tang.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng Đinh Văn H, Phùng Văn X, Huỳnh Văn P1, Nguyễn Văn T, Phạm Văn H4, Đinh Văn P và Đinh Văn T4 đều đã khai nhận cùng tham gia đánh bạc với nhau. Lời khai của các bị can phù hợp về thời gian, địa điểm, vị trí ngồi, cách thức đánh bạc cùng các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Đối với vị trí ngồi khi tham gia đánh bạc, các bị can đều khai nhận ngồi vòng tròn theo thứ tự: Tuất – H - T - P – H4 – Xuất – P. Các bị can không thay đổi vị trí ngồi trong suốt quá trình đánh bạc.
Về hình thức đánh bạc, các đối tượng quy ước cách chơi và tỷ lệ thắng thua như sau: Người chơi sử dụng 36 quân bài của bộ bài tú lơ khơ 52 quân, bỏ các quân bài 10, J, Q, K. Khi chơi, một người cầm bài chia cho mỗi người chơi 03 quân bài (người này gọi là “Chương”), sau đó người chơi cộng điểm các quân bài (riêng quân A có số điểm là 1), tổng 03 quân bài làm tròn chục lấy số hàng đơn vị làm điểm của bài, điểm tròn chục là 10 điểm, sau đó so điểm với người cầm chương để xác định thắng thua. Người nào có điểm cao hơn thì thắng, trường hợp bài có điểm bằng nhau thì so theo quân bài mạnh nhất, độ mạnh của quân bài giảm theo thứ tự A,9,8,7,6,5,4,3,2 và thứ tự về chất theo thứ tự từ cao xuống thấp là rô, cơ, tép, bích. Người 10 điểm cao nhất sẽ là người làm chương cho ván bài tiếp theo. Trong mỗi ván bạc, người chơi so sánh điểm bài của mình với điểm bài của người cầm chương, người nào thắng thì được của người thua số tiền là 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng). Nếu bài 10 điểm mà thắng thì được của nguời thua số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
Ngày 10/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, ngày 11/4/2024 ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Đinh Văn H, Phùng Văn X, Huỳnh Văn P1, Nguyễn Văn T, Phạm Văn H4, Đinh Văn P và Đinh Văn T4 về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát đã phê chuẩn các quyết định trên của Cơ quan điều tra.
Tại Bản án hình sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn H, Đinh Văn P và Huỳnh Văn P1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/4/2024 đến ngày 11/4/2024.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt các bị cáo: Đinh Văn P 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/4/2024 đến ngày 11/4/2024.
Đinh Văn H 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/4/2024 đến ngày 11/4/2024.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017.
Phạt bị cáo Huỳnh Văn P1 06 (Sáu) tháng Cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Huỳnh Văn P1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Trường hợp bị cáo không có việc làm hoặc mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo điều 100 Luật Thi hành án Hình sự.
Khấu trừ 05% thu nhập hàng tháng bằng 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng)/tháng của bị cáo Huỳnh Văn P1 trong thời gian cải tạo không giam giữ để sung quỹ Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017.
Phạt các bị cáo: Đinh Văn P 10.000.000đ (Mười triệu đồng);
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo: Nguyễn Văn T; Đinh Văn H và Huỳnh Văn P1.
Ngoài ra bản án còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 29/7/2024, các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H kháng cáo xin được hưởng án treo. Ngày 19/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị về việc không khấu trừ ngày tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo Huỳnh Văn P1 và tính thời điểm bắt đầu thi hành án. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định kháng nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nội dung kháng nghị, sửa bản án hình sự theo hướng Giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Văn P1 nhưng khấu trừ 06 ngày tạm giữ, quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ và đề nghị xác định thời điểm bắt đầu thi hành án của bị cáo P1 kể từ khi cơ quan thi hành án – Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của 03 bị cáo. Phạt bị cáo: Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt bị cáo: Đinh Văn P 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Hai mươi tư) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Xử phạt bị cáo: Đinh Văn H 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Hai mươi tư) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trong hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về căn cứ buộc tội của các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H, Huỳnh Văn P1:
Quá trình điều tra, truy tố, và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H, Huỳnh Văn P1 khai nhận: Khoảng 13 giờ ngày 05/4/2024 tại nhà ở của anh Đinh Văn D thuộc khu Đ, xã Đ, huyện T. Nguyễn Văn T, Đinh Văn H, Đinh Văn P cùng Phùng Văn X, Đinh Văn T4, Phạm Văn H4, Huỳnh Văn P1 đã thực hiện hành vi sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức chơi “Ba cây”, với tổng số tiền đánh bạc là 8.360.000đ. Hành vi đánh bạc của các bị cáo đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H, Huỳnh Văn P1 tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án là Phùng Văn X, Đinh Văn T4, Phạm Văn H4, người làm chứng, vật chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Theo đó, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn đã tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H, Huỳnh Văn P1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được cải tạo ngoài xã hội của các bị cáo nhận thấy:
Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều không có sự chuẩn bị, bàn bạc phân công trước. Về tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng thực hiện với lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đánh bạc một cách công khai, thể hiện sự coi thường pháp luật. Vì vậy, cần quyết định xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trước khi quyết định cần xem xét thêm về vai trò, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của từng bị cáo như sau.
Xét vai trò của từng bị cáo thấy rằng: Nguyễn Văn T là người có vai trò chính trong vụ án, khởi xướng, rủ rê Đinh Văn P, Đinh Văn H, Huỳnh Văn P1 đánh bạc, bị cáo T cũng là người chuẩn bị 36 quân bài tú lơ khơ để thực hiện; Đối với bị cáo P và H tham gia với vai trò giúp sức là người chuẩn bị công cụ, phương tiện dùng vào việc đánh bạc. Các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H, Huỳnh Văn P1 cùng trực tiếp tham gia đánh bạc từ đầu đến khi bị bắt quả tang. Trong đó Đinh Văn H sử dụng số tiền 2.700.000đ, Nguyễn Văn T sử dụng số tiền 2.130.000đ, Đinh Văn P sử dụng số tiền 1.000.000đ, Huỳnh Văn P1 sử dụng số tiền 260.000đ để đánh bạc.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H, Huỳnh Văn P1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa các cấp, bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H, Huỳnh Văn P1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Riêng bị cáo Nguyễn Văn T: Năm 2017 bị Toà án nhân dân huyện Yên Lập xử phạt 8.000.000đ về tội “Đánh bạc”, ngày 18/4/2018 bị cáo đã thi hành xong hình phạt trên, đến nay đã được đương nhiên xoá án tích, không còn bị tính là tiền án xong bị cáo không được tính là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo còn lại Đinh Văn P, Đinh Văn H, Huỳnh Văn P1 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Văn T được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Ngoài ra các bị cáo: Nguyễn Văn T, Đinh Văn H, Đinh Văn P đều có bố đẻ là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng H5, huy chương nên bị cáo T, H, P còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối chiếu với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội, cũng như vai trò của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H mức hình phạt tù có thời hạn để các bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân và làm gương cho người khác là có phần nghiêm khắc.
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả bị cáo đã gây ra, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đánh bạc không lớn, các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tại cấp phúc thẩm, cả 03 bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn P, Đinh Văn H đều có đơn có xác nhận của chính quyền địa phương về việc các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy định của địa phương nơi cư trú. Theo đó, các bị cáo có nơi cư trú ổn định nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa một phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn theo hướng áp dụng hình phạt tù có điều kiện cho các các bị cáo được hưởng án treo dưới sự quản lý, giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ để các bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ về việc đề nghị sửa bản án hình sự theo hướng giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Văn P1 nhưng khấu trừ 06 ngày tạm giữ, quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ và đề nghị xác định lại thời điểm bắt đầu thi hành án của bị cáo P1.
Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Huỳnh Văn P1 06 (Sáu) tháng Cải tạo không giam giữ là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm đã vi phạm khoản 1 Điều 36 Bộ luật hình sự khi không trừ và quy đổi thời gian bị cáo P1 đã bị tạm giữ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ .
Về thời điểm bắt đầu thi hành án, theo quy định tại Điều 5, thông tư liên tịch số 01/2023/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 18/01/2023 về “ Quy định việc phối hợp trong thực hiện một số quy định của Luật Thi hành án sự về thi hành án hình sự tại cộng đồng” thì thời điểm bắt đầu chấp hành án đối với bị cáo P1 được tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được Quyết định thi hành án. Theo đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời điểm bắt đầu thi hành án cải tạo không giam giữ của bị cáo P1 tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án là không phú hợp.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, toàn bộ Kháng nghị và quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận toàn bộ kháng nghị số 196 ngày 19/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Chấp nhận toàn bộ kháng cáo về hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn H, Đinh Văn P.
Sửa Bản án hình sơ thẩm số 39/2024/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
[2] Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đinh Văn H, Đinh Văn P.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Huỳnh Văn Phong
Xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn H, Đinh Văn P, Huỳnh Văn P1 phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo: Đinh Văn P 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đinh Văn P cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Xử phạt bị cáo: Đinh Văn H 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Đinh Văn H cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn H, Đinh Văn P có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn H, Đinh Văn P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn H, Đinh Văn P cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn H, Đinh Văn P phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn P1 06 (Sáu) tháng Cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 06 ngày tạm giữ (từ ngày 05/4/2024 đến ngày 11/4/2024), quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án
Giao bị cáo Huỳnh Văn P1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Khấu trừ 05% thu nhập hàng tháng bằng 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng)/tháng của bị cáo Huỳnh Văn P1 trong thời gian cải tạo không giam giữ để sung quỹ Nhà nước.
Trường hợp bị cáo không có việc làm hoặc mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo điều 100 Luật Thi hành án Hình sự.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Các bị cáo Nguyễn Văn T, Đinh Văn H, Đinh Văn P, Huỳnh Văn P1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Hương |
Bản án số 65/2024/HS-PT ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm - tội đánh bạc
- Số bản án: 65/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm - Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T và đồng phạm
