|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2024/HS-ST
Ngày: 25/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Ngư và bà Bàn Thị Thu Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Miền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2024/HSST ngày 06/9/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Văn X, T gọi khác: Không; Sinh ngày: 15/10/1989 tại Cao Bằng; Nơi thường trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Hoàng Xuân T1, sinh năm 1952, Con bà Chu Thị M, sinh năm 1952; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không;
Tiền án:
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2015/HS-ST ngày 30/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt ngày 03/02/2021.
- + Tại bản án hình sự sơ thẩm số 171/2021/HS-ST ngày 28/12/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/11/2022 (khối lượng Heroine tàng trữ là 0,08 gam).
Bị cáo bắt tạm giữ từ ngày 05/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện P (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Nông Văn V; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 29/10/1988 tại Lạng Sơn; Nơi thường trú: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Nông Văn K, (đã chết), Con bà Hoàng Thị M1, sinh năm 1968; Vợ: Nông Thị B, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Con: Có 01 con, sinh năm 200; Tiền sự: Không, Nhân thân: Không
Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 74 Ngày 24/9/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 10 năm tù về tội Mua bán trẻ em. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/12/2023.
Bị cáo bắt tạm giữ từ ngày 05/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện P (có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Anh Văn C, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 00 phút ngày 05/6/2024 tại khu vực xóm T, xã T, huyện P tổ công tác của công an xã T làm nhiệm vụ đã phát hiện và bắt quả tang đối tượng Hoàng Văn X và Nông Văn V đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên phải của Hoàng Văn X có một túi ni lông màu trắng có viền màu đỏ, bên trong có hai gói chất bột màu trắng, X khai là ma túy, vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, niêm phong theo quy định vào bì niêm phong ký hiệu A1; Thu giữ của Hoàng Văn X có một điện thoại di động loại bàn phím nhãn hiệu NOKIA màu xanh đã cũ, niêm phong theo quy định vào bì niêm phong ký hiệu A2; thu giữ của Nông Văn V một điện thoại di động loại cảm ứng nhãn hiệu Vivo vỏ màu đen đã cũ, niêm phong theo quy định vào bì niêm phong ký hiệu A3, đồng thời chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện P để điều tra theo thẩm quyền.
Ngày 05/6/2024 Phòng K1 Công an tỉnh T đã tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng và lấy gửi mẫu giám định đối với gói chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Văn X và Nông Văn V trong bì ký hiệu A1 có tổng khối lượng là 0,444 gam, lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 698/KL-KTHS ngày 13/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu B1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,444 gam.
Tại cơ quan điều tra, Hoàng Văn X và Nông Văn V khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 07 giờ ngày 05/6/2024 X và V đến khu công nghiệp Q, Bắc Ninh để tìm mua ma túy heroine về sử dụng. Do X không có tiền, V có 1.200.000 đồng nên X và V đã thống nhất V sẽ bỏ tiền trước ra để mua chung ma túy đề cùng nhau sử dụng, đợi mấy hôm đi thì X sẽ trả cho V 600.000 đồng. Sau đó, X và V cùng nhau đi đến khu công nghiệp Q, Bắc Ninh thì gặp và mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không quen biết 01 (một) túi ni lông màu trắng có viền màu đỏ, bên trong túi ni lông đó có 02 (hai) gói chất bột màu trắng là ma túy loại heroin với giá 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng). X cầm lấy gói ma túy rồi cất giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc, cả hai tìm chỗ vắng ven đường, cấu chia một ít ma túy trong gói ma túy vừa mua cho vào xi lanh pha nước đã chuẩn bị sẵn rồi chia nhau cùng sử dụng bằng hình thức chích. Sau khi sử dụng ma túy xong cả hai đón xe ô tô khách đi lên Thái Nguyên, đến khu vực đường Q T thì X, V xuống xe đi bộ, khi cả hai đang ngồi ở khu vực thuộc xóm T, xã T thì bị Công an xã T, huyện P kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng
Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSPL ngày 05/09/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định truy tố Hoàng Văn X và Nông Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Kết luận điều tra và bản Cáo trạng truy tố. Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, việc truy tố xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận rõ hành vi góp tiền cùng nhau mua ma túy để sử dụng tại Bắc Ninh, sau đó mang theo số ma túy còn lại cất giấu trên người cùng nhau di chuyển về Thái Nguyên, và bị Công an xã T phát hiện ngày 05/6/2024.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn X và bị cáo Nông Văn Vi phạm T2 “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn X từ 30 đến 36 tháng tù; Xử phạt: Bị cáo Nông Văn V từ 24 đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy các bì niêm phong ký hiệu B1, B2 là ma túy và vỏ bao gói mẫu còn lại sau giám định và buộc các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định; tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với hai điện thoại thu giữ của các bị cáo.
Trong phần tranh luận, cả hai bị cáo không có ý kiến tranh luận, không bào chữa. Bị cáo nói lời sau cùng thể hiện ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho các bị cáo đực hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về là người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn X và bị cáo Nông Văn V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, vật chứng đã thu được, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận trưng cầu giám định chất ma túy và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ xác định vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 05/6/2024 tại khu vực xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Văn X và Nông Văn V có hành vi tàng trữ trái phép 0,444 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: .....c, H, ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Vì vậy bản Cáo trạng số 63/CT-VKSPL ngày 05/09/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Hoàng Văn X và Nông Văn V về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Xét tính chất hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Trong vụ án này, các bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích sử dụng cho bản thân. Trong vụ án này, các bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm. Bị cáo X là người khởi xướng và trực tiếp mua, cất giấu ma túy. Bị cáo V là người bỏ tiền và giúp sức tích cực. Ngoài ra không có đồng phạm khác.
[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Nông Văn V có một bản án chưa được xóa án tích. Bị cáo Hoàng Văn X có hai bản án chưa được xóa án tích, tuy nhiên bản án số 15/2015/HS-ST ngày 30/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đã được sử dụng làm tình tiết định tội tại bản án 171/2021/HS-ST ngày 28/12/2021 của Tòa án nhân dân TP Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Do đó bị cáo phạm tội lần này không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó bị cáo Hoàng Văn X và Nông Văn V phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Hai bị cáo đều nghiện ma túy. Bị cáo X nhiều lần bị xử phạt về các tội danh liên quan đến ma túy chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo V từng bị xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trẻ em”. Tại địa phương các bị cáo là lao động tự do không có công việc ổn định.
[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do các bị cáo thực hiện, sau khi xem xét xác tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Xét thấy bản thân các bị cáo cần có thời gian phù hợp để từ bỏ ma túy, sửa đổi bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đề nghị áp dụng đối với bị cáo Hoàng Văn X và Nông Văn V trong phần luận tội là phù hợp nên được chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo kết quả xác minh tại địa phương cho thấy bị cáo X và bị cáo V là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có tài sản, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo X và bị cáo V như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương.
[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xét thấy các vật chứng gồm:
Cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan đến ma túy gồm: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1, bên trong có 0,418 gam mẫu B1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu B1 hoàn trả sau giám định và 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong kí hiệu A1 và vỏ giấy gói.
Đối với điện thoại thu giữ của hai bị cáo, xét thấy không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên trong vụ án này các bị cáo có nghĩa vụ nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Do đó cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B3, bên trong có 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Vivo vỏ màu đen đã cũ, có số MEID: A0000113F47B12, IMEI1: 865204077408773, IMEI2: 865204077408765, SN:10AE3R0R1F000NT và 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B4, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, bàn phím màu đen đã cũ, có số sê ri 1: 355849093963362; số sê ri 2: 355849098963367.
[9] Án phí và quyền kháng cáo: Trong vụ án này, bị cáo X và V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[10] Về nguồn gốc số ma túy Heroine bị thu giữ, Hoàng Văn X và Nông Văn V khai mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không rõ tên tuổi, địa chỉ. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn X và bị cáo Nông Văn Vi phạm T2 “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt Hoàng Văn X 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2024.
Xử phạt Nông Văn V 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo
Quyết định tiếp tục tạm giam mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định:
Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B1, bên trong có 0,418 gam mẫu B1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu B1 hoàn trả sau giám định; 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B2, bên trong có 01 vỏ bì niêm phong kí hiệu A1 và vỏ giấy gói.
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với:
- + 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B3, bên trong có 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Vivo vỏ màu đen đã cũ, có số MEID: A0000113F47B12, IMEI1: 865204077408773, IMEI2: 865204077408765, SN:10AE3R0R1F000N điện thoại đã cũ thu giữ của Nông Văn V.
- + 01 (một) bì niêm phong ký hiệu B4, bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, bàn phím màu đen đã cũ, có số sê ri 1: 355849093963362; số sê ri 2: 355849098963367 thu giữ của Hoàng Văn X.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 64 ngày 13/9/2024 giữa Công an huyện P với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Văn X và Nông Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Loan |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
