Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Hà Thị Nga

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Bích Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2024/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 820/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 893/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Nữ Hà P, nơi cư trú: Số G T, phường N, quận L, Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B; nơi cư trú: Số G T, phường N, quận L, Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trịnh Nữ Hà P trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn B xây dựng gia đình với nhau từ năm 2009 trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng ngày 09/12/2009. Đến nay vợ chồng có hai con chung.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống và cách sống giữa vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Chị P và anh B đã từng hai lần nộp đơn ly hôn lên Tòa án nhân dân quận Lê Chân, được Tòa án hòa giải nên vợ chồng quay về đoàn tụ chung sống với nhau. Tuy nhiên, sau đó không lâu mâu thuẫn vẫn lặp lại không thể hoà thuận được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2024 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trịnh Hà T, sinh ngày 10/04/2012 và Nguyễn Nhật A, sinh ngày 11/10/2015. Ly hôn chị P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung đến khi con đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con, chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho anh B, anh B đã nhận được nhưng không đến Tòa án làm việc và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị P, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đối với đại diện chính quyền địa phương nơi chị P và anh B đang chung sống và đại diện gia đình chị P, được biết: Chị Trịnh Nữ Hà P và anh Nguyễn Văn B hiện đang sinh sống tại số G T, phường N, quận L, Hải Phòng, có xảy ra nhiều mâu thuẫn và đã từng nộp đơn ly hôn tại Toà án nhân dân quận Lê Chân. Tuy nhiên do Toà án và gia đình hai bên tích cực hoà giải nên đã về đoàn tụ. Nhưng nay mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng nên chị P lại làm đơn xin ly hôn. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung và tài sản chung đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Chị P và anh B kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân từ tháng 5/2024 đến nay, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Trịnh Nữ Hà P được ly hôn anh Nguyễn Văn B; về con chung: Đề nghị Toà án giao cả 02 con chung là Nguyễn Trịnh Hà T, sinh ngày 10/04/2012 và Nguyễn Nhật A, sinh ngày 11/10/2015 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị P không yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét; về tài sản chung: Chị P không có yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét; về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là anh Nguyễn Văn B; nơi cư trú: Số G T, phường N, quận L, Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Bị đơn anh Nguyễn Văn B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất và đã được tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không có mặt, do vậy HĐXX căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn B.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Nữ Hà P và anh Nguyễn Văn B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng ngày 09/12/2009, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.

[4] Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã và đã từng hai lần nộp đơn xin ly hôn gửi Toà án quận L. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn B đến Tòa án làm việc nhiều lần nhưng anh B đều không đến và không có ý kiến trình bày về quan điểm của mình, qua đó cho thấy anh B cũng không muốn hàn gắn tình cảm với chị P. Đồng thời qua các tài liệu xác minh thu thập chứng cứ đã xác nhận cuộc sống chung giữa chị P và anh B thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân nhau. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị P và anh B trên thực tế đã không còn, mâu thuẫn thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị P yêu cầu được ly hôn anh B là phù hợp, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trịnh Hà T, sinh ngày 10/04/2012 và Nguyễn Nhật A, sinh ngày 11/10/2015. Ly hôn, chị P có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi cả hai con chung đến khi con thành niên đủ 18 tuổi.

Mặt khác, anh B không có ý kiến gì thể hiện quan điểm về việc nuôi con gửi cho Tòa án. Vì vậy việc chị P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế, phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[6] Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

- Về án phí:

[7] Chị Trịnh Nữ Hà P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trịnh Nữ Hà P được ly hôn anh Nguyễn Văn B.
  2. Về nuôi con chung: Giao cả hai con chung là Nguyễn Trịnh Hà T, sinh ngày 10/04/2012 và Nguyễn Nhật A, sinh ngày 11/10/2015 cho chị Trịnh Nữ Hà P trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Chị Trịnh Nữ Hà P phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này chị P đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003354 ngày 14 tháng 6 năm 2024.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND P. Đông Hải 1, q. Hải An, tp. Hải Phòng (GCNKH ngày 09/12/2009);
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger