Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 64/2024/DS-ST

Ngày 17-9-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thanh Huệ

Bà Nguyễn Thị Minh Trâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 230/2024/TLST-DS ngày 31/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-DS ngày 08/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79/2024/QĐST-DS ngày 23/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng T3

Địa chỉ: T, số A T, phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP T3.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn C – Chức vụ: Chuyên viên phòng quản lý rủi ro phụ trách xử lý nợ Ngân hàng TMCP T3 - Chi nhánh N (theo Quyết định số 355/QĐ-BIDV.NT ngày 08/8/2023 của Giám đốc Ngân hàng TMCP T3 – chi nhánh N về việc Ủy quyền tham gia tố tụng, phá sản và thi hành án dân sự).

Địa chỉ chi nhánh N: Số A đường B tháng H, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Bị đơn: Ông Trần Quốc T1, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Khu phố D, phường T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Ông Nguyễn Văn C có mặt, ông Trần Quốc T1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ông Trần Quốc T1 có ký kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần T3 - Chi nhánh N theo Hợp đồng tín dụng số 8320/2016/HĐ ngày 04/01/2016, cụ thể như sau: Số tiền vay: 70,000,000đồng (Bảy mươi triệu đồng Thời hạn vay: 60 tháng; Mục đích vay: Tiêu dùng; Lãi suất vay ban đầu: 9,0 Lãi suất vay hiện nay: 0%/năm. Lịch sử trả nợ: Số tiền gốc đã trả: 8.256.242 đồng; Số tiền lãi đã trả: 4.973.758 đồng.

Tính đến hết ngày 17/9/2024, dư nợ của ông Trần Quốc T1 theo Hợp đồng tín dụng số 8320/2016/HĐ ngày 04/01/2016 là 124.492.189 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn một trăm tám mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 61.743.758 đồng; Nợ lãi: 51.594.086 đồng; Lãi phạt 11.154.345 đồng.

Đến nay, toàn bộ nợ vay theo Hợp đồng tín dụng nêu trên đã quá hạn. Do vậy ông Trần Quốc T1 đã vi phạm Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần T3 - Chi nhánh N về việc trả nợ vay.

Ngân hàng Thương mại cổ phần T3 yêu cầu Tòa án buộc:

Ông Trần Quốc T1 phải trả ngay toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần T3 với tổng số tiền tính đến hết ngày 17/9/2024 124.492.189 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn một trăm tám mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 61.743.758 đồng; Nợ lãi: 51.594.086 đồng; Lãi phạt 11.154.345 đồng.

Buộc ông Trần Quốc T1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền nợ chưa thanh toán tính từ ngày 18/9/2024 với lãi suất theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ vay.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Trần Quốc T1 vắng mặt dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, còn bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thì việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng.

[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng thương mại cổ phần T3 khởi kiện yêu cầu ông Trần Quốc T1 phải trả số tiền nợ đã vay theo Hợp đồng tín dụng số 8320/2016/HĐ ngày 04/01/2016. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại Khu phố D, phường T, thành phố. Phan R - T. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

[1.2] Về thủ tục tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang -T đã tiến hành xác minh về nơi cư trú của ông Trần Quốc T1 tại khu phố D, phường T, thành phố P -T và xác định ông Trần Quốc T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố D, phường T, thành phố P - T nhưng không còn sinh sống tại địa phương. Khi đi ông T1 không thông báo về nơi cư trú mới cho địa phương, không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới. Do vậy, đây được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ –HĐTP ngày 05 tháng 5 năm 2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Địa chỉ khu phố D, phường T được coi là nơi cư trú cuối cùng của ông T1, Tòa án

nhân dân thành phố Phan Rang - T căn cứ vào Điều 177, 179 của Bộ luật tố tụng dân sự thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng cho ông Trần Quốc T1 tại địa chỉ khu phố D, phường T, thành phố P - T.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn ông Trần Quốc T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần T3 đối với ông Trần Ngọc T2, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Về tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng: Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, đối chiếu Giấy đề nghị vay vốn, Hợp đồng tín dụng số 8320/2016/HĐ ngày 04/01/2016, thấy rằng các giấy tờ trên đều có chữ ký của ông Trần Quốc T1, có xác nhận của Trung tâm Khuyến nông, khuyến ngư tỉnh N nơi ông T1 công tác tại thời điểm vay vốn; Căn cứ vào các chứng cứ trên có đủ cơ sở để xác định: Ngày 04/01/2016, ông Trần Quốc T1 có ký hợp đồng vay của Ngân hàng thương mại cổ phần T3 số tiền 70.000.000đ, thời hạn vay 60 tháng, mục đích vay tiêu dùng; lãi suất tại thời điểm vay 09%/năm, lãi suất hiện nay 0%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; kỳ hạn trả nợ: hàng tháng, số tiền trả nợ hàng tháng 1.470.000 đồng (trả gốc và lãi). Chủ thể ký kết hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, hình thức, mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên Hợp đồng tín dụng số 8320/2016/HĐ ngày 04/01/2016 được coi là hợp pháp, có hiệu lực.

[2.2] Đối với yêu cầu trả nợ gốc, lãi tiền vay:

Tính đến ngày 17/9/2024 ông Trần Quốc T1 đã trả được 8.256.242 đồng nợ gốc và 4.973.758 đồng nợ lãi. Đến hạn trả nợ ông T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là vi phạm Điều 5 của Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tính đến ngày 17/9/2024,

ông Trần Quốc T1 còn nợ Ngân hàng số tiền: 124.492.189 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn một trăm tám mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 61.743.758 đồng; Nợ lãi: 51.594.086 đồng; Lãi phạt 11.154.345 đồng.

Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án thì ông Trần Quốc T1 vắng mặt, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Vì vậy, căn cứ vào Điều 466 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều

92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật.

[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những nhận định nêu trên nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 357, 463, 466 và Điều 468, Điều 688 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 16 Điều 4 và Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần T3
  2. Buộc ông Trần Quốc T1 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần T3 số tiền tính đến ngày 17/9/2024 là: 124.492.189 đồng (Một trăm hai mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi hai nghìn một trăm tám mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc: 61.743.758 đồng (Sáu mươi mốt triệu bảy trăm bốn mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi tám đồng); Nợ lãi: 51.594.086 đồng (Năm mươi mốt triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn không trăm tám mươi sáu đồng); Lãi phạt 11.154.345 đồng (Mười một triệu một trăm năm mươi bốn nghìn ba trăm bốn mưới lăm đồng).
  3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Trần Quốc T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ vay. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần T3 thì lãi suất mà ông Trần Quốc T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án
  4. cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần T3.
  5. Về án phí: Ông Trần Quốc T1 phải chịu 6.225.000 (đã làm tròn) (Sáu triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần T3 số tiền 3.112.000 (Ba triệu một trăm mười hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002745 ngày 27/5/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nga

7

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Phan Thị Thanh Huệ Nguyễn Thị Minh Trâm

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 64/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger