|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/DS-ST Ngày: 16-9-2024 V/v: “Tranh chấp lối đi và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Thành Tâm |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Thị Tường Vi |
| Bà Hoàng Thị Biên |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Huyền Trang - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Ông Trần Minh Công - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp lối đi và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Đặng Văn M sinh năm 1953, bà Đặng Thị R sinh năm 1947. Cùng trú tại: thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: ông Ngô Văn T, sinh năm 1964. Trú tại: thôn B, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1 Ủy ban nhân dân huyện D
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thế H- Chức vụ: Phó Chủ tịch.
- 3.2. Bà Nguyễn Thị N; Trú tại: thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- 3.3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962; Trú tại: thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- 3.4. Bà Phạm Thị C, sinh năm 1972; Trú tại: thôn B, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Ông M, bà R, ông T, bà C1, bà L có mặt. Các đương sự khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị R trình bày:
Năm 1990, ông bà nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Đặng Văn Đ, thửa đất số 135, 136 tờ bản đồ số 34C, nay thuộc thửa số 119, tờ bản đồ số 42 diện tích 543 m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 925365, được UBND huyện D, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 17/12/2012, tọa lạc tại xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Khi nhận chuyển nhượng, hiện trạng thửa đất đã có con đường đất rộng 1,7m đến 2,3m, chiều dài khoảng 10m, con đường trên tiếp giáp với đường liên thôn và được sử dụng với mục đích là lối đi chung. Hiện tại con đường trên được thể hiện trong bản đồ địa chính, con đường từ trước đến nay vẫn được dùng với mục đích là lối đi chung và đã hình thành từ trước năm 1975.
Tháng 3 năm 2023, ông T đã có hành động ngăn chặn ông vào vườn của ông, không cho ông đi trên lối đi chung này nữa. Ông đã nhiều lần gặp ông T để hòa giải nhưng không được. Con đường trên có giá trị khoảng 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng giải quyết:
- Công nhận đường đi vào thửa đất số 119, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là lối đi chung; Yêu cầu ông Ngô Văn T phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên lối đi này.
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Ngô Văn T đối với diện tích là lối đi thuộc thửa đất số 130 tờ bản đồ số 42 đo năm 2016 (thửa đất số 08, tờ bản đồ số 34C năm 1994) tại xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng được Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 26/4/2001.
Bị đơn ông Ngô Văn T trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất 4.256m² thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 34C, được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 171584 ngày 26/04/2001 cho ông Ngô Văn T là của mẹ vợ ông bà Phạm Thị Lạc T1 cho năm 1990, ông sử dụng ổn định diện tích đất trên từ năm 1990 đến nay không ai tranh chấp. Tại thời điểm bà Phạm Thị L1 sử dụng diện tích đất trên cho đến khi bà L1 tặng cho ông, bà C. Năm 2001, ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trên bản đồ địa chính năm 1994 không thể hiện lối đi chung. Từ năm 1990, có khoảng 3 đến 4 năm hộ dân đi ngang qua diện tích đất trên của ông để làm vuờn, vì ông nể tình làng nghĩa xóm nên đã tạo điều kiện cho các hộ dân đi qua. Năm 1991 ông làm căn nhà gỗ trên thửa đất này và chuyển cả gia đình về thôn B xã G sống đến nay. Đến khoảng năm 2014, 2015, ông rào lại toàn bộ diện tích đất trên bằng lưới B40, nhưng ông vẫn để lại một lối đi nhỏ khoảng ngang 1,5m, dài khoảng 50m cho bà con đi nhờ để làm vườn, lúc này cũng chỉ có 3, 4 hộ dân. Tuy nhiên, ông không hiểu lý do tại sao trên bản đồ địa chính năm 2016 lại thể hiện có con đường mòn rộng khoảng 1,5m, dài khoảng 50m trên đất của ông. Nay bà Đặng Thị R và ông Đặng Văn M khởi kiện yêu cầu ông phải trả lại con đường trên làm lối đi chung thì ông không đồng ý. Con đường trên thuộc diện tích đất của gia đình ông, đã được Ủy ban nhân dân huyện D cấp Giấy chứng nhận diện quyền sử dụng đất từ năm 2001 và không có tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân huyện D do ông Nguyễn Thề H1 đại diện theo ủy quyền trình bày:
- Trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số T 171584 ngày 26/4/2001 xã G: Hộ ông Ngô Văn T đăng ký cấp GCN QSDĐ và được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận QSDĐ số T 171584 ngày 26/4/2001 tại thửa đất số 08 (34C) xã G, diện tích 4.256m² CLN theo Quyết định số 258/QĐ-UB ngày 06/4/2001.
- Việc đăng ký biến động, chỉnh lý trang 4: Giấy chứng nhận QSDĐ số T 171584 cấp ngày 26/4/2001 cấp cho hộ ông Ngô Văn T được Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện Di L2 chỉnh lý trang 4 ngày 09/4/2018, trong đó có nội dung: Chuyển quyền sử dụng đất từ hộ ông Ngô Văn T thành ông Ngô Văn T và bà Phạm Thị C theo hồ sơ số 1876/2018. Cùng năm 2018, ông Ngô Văn T và bà Phạm Thị C đăng ký chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở nông thôn, diện tích: 100m², được UBND huyện D ban hành Quyết định số 1155/QĐ- UBND ngày 18/5/2018 về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất tại xã G, được Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện D chính lý trang 4 ngày 29/5/2018
- Quan điểm của UBND huyện D đối với yêu cầu của ông Đặng Văn M:
- + Đối với Giấy chứng nhận số T 171584 cấp ngày 26/4/2001 xã G được UBND huyện D cấp theo trình tự thủ tục quy định tại Luật đất đai 1993;
- + Việc UBND huyện D cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở nông thôn với diện tích 100m² được thực hiện đúng theo trình tự thủ tục quy định tại Luật đất đai 2013.
- Về việc đăng ký biến động thay đổi chủ sử dụng tại Giấy chứng nhận số T 171584: Căn cứ Quyết định 918/QĐ-UBND ngày 16/4/2015 của UBND tỉnh L về việc thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh L trực thuộc Sở T3 tỉnh và Quyết định số 152/QĐ-UBND ngày 22/01/2019 của UBND tỉnh L về việc công bố danh mục thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng thì việc đăng ký biến động sang tên tại trang 4 của các GCN nói trên thuộc thẩm quyền của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện D trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh giải quyết. Do vậy, UBND huyện D không có ý kiến đề nghị giải quyết theo quy định. Trường hợp Giấy chứng nhận nêu trên được cấp không đúng quy định của pháp luật UBND huyện D thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn M.
Bà Phạm Thị C trình bày: thống nhất với lời trình bày của ông Ngô Văn T và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà sử dụng con đường này từ năm 1975 đến nay, do vậy đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M, bà R.
Bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà có nhận chuyển nhượng thửa đất số 07 tờ bản đồ số 47, xã G của bà Nguyễn Thị T2. Khi mua đất thì phía đuôi đất có thể hiện 01 con đường nối từ đường liên thôn ngang qua đất của ông L3 và ông T để đi vào các thửa đất phía trong, trong đó có đất của bà. Tuy nhiên, bà không sử dụng lối đi này do đất của bà giáp đường bê tông. Bà xác định không có tranh chấp diện tích đất đường đi. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà L đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị R. Về Chi phí tố tụng, án phí giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà N, UBND huyện D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[1.2] Xuất phát từ việc ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị R khởi kiện yêu cầu công nhận một phần thửa đất số 130 tờ bản đồ số 42 đo năm 2016 (thửa đất số 08 cũ, tờ bản đồ số 34C năm 1994) tại xã G, huyện D là lối đi chung và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Ngô Văn T. Bị đơn ông Ngô Văn T không đồng ý nên các bên phát sinh tranh chấp. Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp lối đi vàyêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
[2.1] Nguồn gốc diện tích đất 4.256m² thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 34C ông được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/04/2001 đứng tên Ngô Văn T là của mẹ vợ ông T tên Phạm Thị Lạc T1 cho vợ chồng ông T vào năm 1990, trong đó có một phần diện tích ông M, bà R cho rằng khi ông bà nhận chuyển nhượng thửa 119, tờ bản đồ số 42 từ năm 1990 thì hiện trạng thửa đất đã có con đường đất rộng 1,7m đến 2,3m, chiều dài khoảng 10m, con đường trên tiếp giáp với đường liên thôn và được sử dụng với mục đích là lối đi chung nằm trong thửa đất số 130 tờ bản đồ số 42 đo năm 2016 (thửa đất số 08 cũ, tờ bản đồ số 34C năm 1994) tại xã G, huyện D đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T.
Bị đơn ông Ngô Văn T cho rằng: ông sử dụng ổn định diện tích đất trên từ năm 1990 đến nay không ai tranh chấp. Từ năm 1990, có khoảng 3 đến 4 năm hộ dân đi ngang qua đất của ông để làm vuờn, lúc đấy vì ông nể tình làng nghĩa xóm, nên ông đã tạo điều kiện cho các hộ dân đi qua. Đến khoảng năm 2014, 2015, ông rào lại toàn bộ diện tích đất trên bằng lưới B40, nhưng ông vẫn để lại một lối đi nhỏ khoảng ngang 1,5m, dài khoảng 50m cho các hộ dân có đất bên trong đi nhờ để làm vườn, lúc này cũng chỉ có 3, 4 hộ dân.
[2.2] Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và họa đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất thể hiện: Vị trí đất tranh chấp hiện trạng là đường đất diện tích 134m², rộng 2,6m. Lồng ghép lên bản đồ địa chính năm 2006 thể hiện lối đi trùng lên diện tích 65,3m² đất thuộc thửa đất 08, tờ bản đồ số 34C. Lồng ghép lên bản đồ địa chính đo đạc năm 2016 thể hiện lối đi trùng lên thửa đất 130, tờ bản đồ số 42 diện tích 28,7m²; trùng lên thửa đất 147 diện tích 1.5m². Phần diện tích còn lại thuộc lối đi công cộng đã được thể hiện vào bản đồ địa chính.
Theo hồ sơ địa chính thì ông M bà R sử dụng thửa đất số 134, tờ bản đồ 34C (đo đạc năm 1994) nay thuộc thửa 119, tờ bản đồ số 42 (đo đạc năm 2016). Bị đơn ông T sử dụng thửa đất 08, tờ bản đồ số 34C (đo đạc năm 1994) nay là thửa 130, tờ bản đồ số 42 (đo đạc năm 2016). Xung quanh thửa đất 119, tờ bản đồ số 42 do ông M, bà R đang sử dụng bị vây bọc bởi các thửa đất khác, không còn lối đi nào khác (biên bản xác minh ngày 04-7-2024 bút lục số 66).Trên bản đồ đo đạc năm 1994 không thể thể hiện lối đi vào đất số 134 do ông M, bà R đang sử dụng. Theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2016 thể hiện có con đường đi rộng 2,2m dài 6.2 m đi vào thửa đất 119, tờ bản đồ số 42 do ông M, bà R đang sử dụng. Một bên đường tiếp giáp thửa 130 do ông T sử dụng, một bên đường tiếp giáp thửa 147 do ông L3 đang sử dụng.
Mặc dù trên bản đồ địa chính thiết lập năm 1994 không thể hiện lối đi vào thửa đất số 134. Tuy nhiên, theo ý kiến dân lý do UBND xã G ghi nhận (biên bản xác minh ngày 04-7-2024) thì các chủ sử dụng đất liền kề với thửa đất 130, thửa đất 134 đều trình bày con đường hình thành từ khoảng trước năm 1975, là đường mòn. Sau này ông T và ông L3 rào ranh bằng lưới B40 như hiện trạng. Hiện nay là ông M, bà R, bà N, bà L đang sử dụng lối đi này.
Tại biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 05-4-2023 có nội dung các đương sự và Ủy ban nhân dân xã G thống nhất kết luận như sau: “ Tại buổi làm việc các hộ dân đều công nhận có đường đi khảng từ năm 1978 cho đến nay là được các hộ sử dụng liên tục từ năm 1978 đến nay.” nhưng không thể hiện rõ diện tích của lối đi.
[2.3] Bên cạnh đó, theo lời trình bày của bà L con đường được hình thành từ năm 1975 và hiện bà đang sử dụng con đường này để đi vào đất. Còn bà N trình bày thì kể từ khi bà nhận chuyển nhượng thửa đất số 7 của bà T2 thì đã có hiện hữu con đường nối từ đường liên thôn ngang qua đất của ông T, ông L3 đi vào các thửa đất bên trong. Trên thực tế bị đơn ông T đã rào lại diện tích đất thuộc quyền sử dụng của mình bằng lưới B40 chừa lại phần diện tích là lối đi. Như vậy có thể thấy rằng, các đương sự thống nhất thừa nhận trên thực tế có tồn tại con đường đi ngang qua thửa đất số số 130 tờ bản đồ số 42 đo năm 2016 (thửa đất số 08, tờ bản đồ số 34C năm 1994) đi vào các thửa đất bên trong bao gồm thửa 147 do bà N đang sử dụng và thửa đất 119 do ông M, bà R đang sử dụng. Con đường đã tồn tại từ trước năm 1975. Xét đây là những tình tiết được bị đơn thừa nhận nên không cần phải chứng minh. Con đường này cũng đã được thể hiện trên bản đồ địa chính đo đạc năm 2016 và được các hộ dân tại khu vực xác nhận nên có căn cứ xác định một phần diện tích 103,8 m² lối đi hiện trạng nằm trong phần số 02 của họa đồ đo đạc là lối đi do Nhà nước quản lý, các hộ dân được phép sử dụng.
Riêng đối với phần diện tích 28,7m² hiện hữu là lối đi thuộc thửa đất số 130 tờ bản đồ số 42 nằm ngoài phần lối đi thể hiện bản đồ địa chính đo đạc năm 2016, diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của ông T, bà C. Do vậy, để được sử dụng lối đi này, ông M, bà R phải thanh toán số tiền giá trị đất cho ông T, bà C theo chứng thư thẩm định giá số 062/2024/FMA-LĐ ngày 01-7-2024 của công ty TNHH T4. Cụ thể ông M, bà R phải thanh toán cho ông T, bà C số tiền 792.240,85 đồng x 28,7m²= 22.737.312 đồng (làm tròn 22.737.000 đồng) và công nhận phần diện tích đất lối đi này là lối đi chung của thửa 130; thửa 119 là phù hợp. Có họa đồ đo đạc của Công ty TNHH A ngày 12-7-2024 kèm theo.
[2.4] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo hướng đã nhận định.
[2.5] Đối với 1.5m² đất thuộc thửa 147, ông M, bà R không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[3] Xét yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T171584 ngày 26-4-2001 cho hộ ông Ngô Văn T; nay đã đăng ký biến động vào trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành cấp cho ông Ngô Văn T, bà Phạm Thị C. Như phân tích trên, hộ ông T được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T171584 ngày 26-4-2001 đối với thửa đất số 34C, xã G, huyện D. Theo họa đồ đo đạc thể hiện phần diện tích lối đi có 65,3 m² thuộc thửa đất số 08 nay là đường đi trên bản đồ, và phần diện tích 28.7m² thuộc thửa 130 nên không cần thiết phải hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên và các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh lại phần diện tích đất làm lối đi theo quy định.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện buộc ông Ngô Văn T phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên lối đi. Xét thấy, ông T đã rào lại diện tích đất đang sử dụng và chừa lại lối đi tranh chấp, nên không có căn cứ chấp nhận đối với yêu cầu khởi kiện này.
[5] Về chi phí tố tụng:
Chi phí thẩm định tại chỗ, đo vẽ, định giá 15.951.000 đồng do ông M đã nộp và quyết toán xong. Xét việc thẩm định tại chỗ, đo vẽ, định giá là cần thiết cho việc giải quyết vụ án và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên mỗi bên phải chịu ½, cần buộc ông T có nghĩa vụ hoàn trả lại cho M, bà R 7.975.000 đồng.
[6] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần, nên bị đơn ông T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Riêng ông M, bà R đã trên 60 tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền thanh toán cho bị đơn ông T.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; Điều 34; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 37; Điều 147; Điều 157; khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 254 của Bộ Luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị R về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất là lối đi, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” đối với ông Ngô Văn T.
- - Công nhận diện tích 132,5m² (nằm trong vị trí số 02: có 103,8m2 là lối đi có trên bản đồ địa chính số 42 và 28,7m² thuộc thửa đất số 130 tờ bản đồ số 42) là lối đi chung của thửa số 119, 130 tờ bản đồ số 42 tọa lạc tại xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- (Có họa đồ đo đạc của Công ty TNHH A ngày 12-7-2024 kèm theo)
- - Buộc Đặng Văn M, bà Đặng Thị R có nghĩa vụ thanh toán số tiền 22.737.000 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn đồng) cho ông Ngô Văn T, bà Phạm Thị C là giá trị đất đối với diện tích 28,7m² mở lối đi.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M, bà R về việc tháo dỡ các công trình xây dựng trên lối đi chung.
- Về chi phí tố tụng:
- Buộc ông Ngô Văn T, bà Phạm Thị C thanh toán cho ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị R số tiền 7.975.000 đồng (bảy triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
- Về án phí:
- Buộc ông Ngô Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Đặng Văn M, bà Đặng Thị R.
- Quyền kháng cáo:
- Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh giảm diện tích 65,3m² trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T171584 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp cho hộ ông Ngô Văn T ngày 26-4-2001 đối với diện tích 65,3m² thuộc thửa đất số 08, tờ bản đồ số 34C, xã G, huyện D và 28,7m² thuộc thửa 130 tờ bản đồ số 42 tọa lạc tại xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng theo quy định.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Thị Tường Vi-Hoàng Thị Biên | Nguyễn Thành Tâm |
10
Bản án số 65/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp lối đi và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 65/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện
