TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày 04-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Văn Lộc.
Ông Mai Trần Phúc .
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Gia Phú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phạm Thế Ân và bà Phan Thanh H – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thanh N (tên gọi khác: N mù), sinh năm 1989 tại tỉnh Bắc Giang.
Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Đoàn Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không.
- Tiền án: 03 tiền án.
- + Bản án số 101/2009/HSST ngày 09/12/2009 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2009. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
- + Bản án số 28/2012/HSST ngày 09/01/2012 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/10/2011. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2014.
- + Bản án số 48/2015/HSST ngày 19/3/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt với Bản án số 39/2015/HSPT ngày 18-3-2015 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Bị cáo N phải chấp hành chung là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/6/2014. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/10/2022.
- Nhân thân:
- + Ngày 30/3/2006 Ủy ban nhân dân huyện C ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng đối với bị cáo N với thời hạn 12 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 13/02/2007. Lần bị xử lý này tính đến ngày phạm tội, đã hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
- + Ngày 11/9/2007 Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã thời hạn 06 tháng kể từ ngày 11/9/2007 đến ngày 11/3/2008 về hành vi “Đánh nhau”. Lần bị xử lý này tính đến ngày phạm tội, đã hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
- + Bản án số 28/2009/HSST ngày 25/3/2009 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Lần bị kết án này tính đến ngày phạm tội, bị cáo đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/01/2024, chuyển tạm giam ngày 29/01/2024 đến nay (có mặt).
2. Nguyễn Hoàng L1 (tên gọi khác: C), sinh năm 1983 tại tỉnh Tây Ninh.
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N1; có vợ tên Thái Thị T (đã ly hôn) và 02 con; tiền sự: Không.
- Tiền án: 02 tiền án.
- + Bản án số 196/2009/HSST ngày 16/10/2009 của Tòa án án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương áp dụng khoản 1 Điều 148; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L1 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/5/2009. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 19/5/2010.
- + Bản án số 102/2012/HSPT ngày 28/6/2012 Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm a khoản 3 Điều 138; điểm a, b, g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L1 11 (mười một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2011. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 09/4/2020, chưa chấp hành xong các quyết định khác của bản án.
- Nhân thân: Ngày 10/6/2020 Công an xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 28/QĐ-XPHC, xử phạt bị cáo L1 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc ”, bị cáo nộp phạt vào ngày 15/7/2020. Lần bị xử lý này tính đến ngày phạm tội, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 26/01/2024, chuyển tạm giam ngày 29/01/2024 đến nay (có mặt).
- Bị hại:
- Anh Phạm Thanh H1, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (có đơn vắng mặt).
- Chị Bùi Thị T1, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Chị Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1977. Địa chỉ: Khu phố C, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có đơn vắng mặt).
- Anh Hồ Ngọc C1, sinh năm 1974. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Chị Lê Thị Lan A, sinh năm 2005. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
- Bà Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1956. Địa chỉ: Khu phố C, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Hoàng L1 và bị cáo Nguyễn Thanh N không có nghề nghiệp, cần tiền để sử dụng. Bị cáo L1 rủ bị cáo N đi tìm xe mô tô của người khác không có người trông coi để trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài, N đồng ý. L1 chuẩn bị 01 chìa khoá tự chế dùng để mở khoá xe (thường gọi là cây đoản), cả 2 thống nhất khi đi trên đường nếu ai phát hiện được xe mô tô thì người đó trực tiếp lấy xe, người còn lại cảnh giới. Vào lúc 13 giờ 00 phút ngày 26/01/2024, N điều khiển xe mô tô biển số 70K1-069.38 chở L1 đi đến khu vực ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh thì N phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 70D1-803.40 của anh Phạm Thanh H1 có cắm sẵn chìa khóa dựng trước cửa nhà không có người trông coi. N dừng xe lại và đi bộ vào để lấy xe, L1 ở ngoài cảnh giới, N vào mở khoá và lấy xe chạy đi, L1 điều khiển xe mô tô biển số 70K1-069.38 chạy theo. Khi N và L1 đang điều khiển xe về hướng thành phố T để đi tiêu thụ thì bị lực lượng Công an huyện C phối hợp Công an thành phố T truy đuổi đến đoạn đường T thuộc khu phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Tây Ninh bắt được N và L1 cùng xe mô tô vừa trộm cắp.
Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thanh N đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C và thành phố T, cụ thể:
- - Lần thứ nhất: Khoảng 04 giờ 45 phút ngày 05/10/2023, bị cáo N đi bộ trên đường ĐT781 thuộc xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến nhà bà Lê Thị M, sinh năm 1930, trú tại ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, N phát hiện nhà không khóa cửa nên đã đột nhập vào bên trong lấy số tiền 800.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A23 của chị Bùi Thị T1 và một xe mô tô nhãn hiệu HONDA BLADE biển số 70D1-576.62 của bà Nguyễn Ngọc H2. Sau đó, N điều khiển xe mô tô đến cửa khẩu T2, thuộc huyện T bán cho 01 người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ được số tiền 5.500.000 đồng, Nam tiêu xài cá nhân hết số tiền trộm cắp và tiền bán xe mô tô, còn điện thoại di động do N không biết sử dụng nên đã vứt bỏ trên đường đi.
- - Lần thứ hai: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 08/12/2023, bị cáo N đi bộ một mình trên đường C thuộc thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Khi đến trước nhà chị Nguyễn Thị Kim D tại số H, đường C, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh thì nằm ngủ trên ghế đá trước nhà. Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 09/12/2023, Nam thức dậy quan sát thấy nhà chị D có cửa bên hông là rào kẽm B40 và được buộc lại bằng dây kẽm, Nam mở cửa đi vào bên trong phát hiện có một xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria, biển số 70B2-048.68 của Nguyễn Thị Minh H3 là con gái chị D, N đã lén lút lấy xe và mang đến địa bàn huyện T bán cho một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ được số tiền 7.000.000 đồng, Nam tiêu xài cá nhân hết số tiền bán xe mô tô.
- - Lần thứ ba: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, bị cáo N đi bộ trên đường Đ thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh phát hiện nhà anh Hồ Ngọc C1 tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh có dựng xe mô tô nhãn hiệu HONDA FUTURE F1 biển số 70D1-801.35 trong sân nhà, cửa cổng không đóng và không có người trông coi. N lén lút đi vào dắt xe mô tô đi ra ngoài đường và nổ máy chạy đi đến cửa khẩu T2 thuộc huyện T bán cho 01 người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ được số tiền 7.000.000 đồng, Nam tiêu xài cá nhân hết số tiền bán xe.
- - Lần thứ tư: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/01/2024, bị cáo N đi bộ một mình từ bến xe Tây Ninh trên đường T đến đường C thuộc thành phố T, tỉnh Tây Ninh để tìm xe mô tô trộm cắp. Đến 17 giờ 20 phút cùng ngày, N đi qua nhà số I, Đường C, Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen, biển số 70L1-541.57 của chị Lê Thị Lan A đang dựng phía trước và không có người trông coi, N dùng bộ đoản chuẩn bị sẵn để bẻ khóa xe và điều khiển chạy đi. Sau đó, N đem xe đi bán cho 01 người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ được số tiền 4.500.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.
- * Kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐGTS ngày 14/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Xe mô tô biển số 70 B2-048.68 trị giá 20.000.000 đồng.
- * Kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 02/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Xe mô tô biển số 70 L1-541.57 trị giá 8.000.000 đồng.
- * Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐG ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Xe mô tô biển số 70 D1-801.35 trị giá 23.333.000 đồng.
- * Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Xe mô tô biển số 70 D1-803.40 trị giá 12.667.000 đồng.
- * Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 02/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:
- + Xe mô tô biển số 70 D1-576.62 trị giá 8.667.000 đồng;
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG trị giá 2.300.000 đồng.
* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
- - 01 (một) xe mô tô biển số 70K1-069.38, màu đỏ (đã qua sử dụng). Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại anh Phạm Thanh H1.
- - 01 (một) cây lục giác bằng kim loại (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) áo sơ mi màu đen ngắn tay (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, có chữ NÓN SƠN (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng có 3 sọc màu đỏ, có chữ HÙNG THÔNG 30/4 (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) túi xách màu đen, bên ngoài có chữ XIUXIANXILIE (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh N (bản gốc).
- - 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu REALME màu xanh, số IMEI 860343040376975 (đã qua sử dụng, bị bể nắp lưng và nứt màn hình).
- - 01 (một) xe mô tô biển số 70D1-803.40, màu trắng, số khung RLHJA3929NY188145, số máy JA39E2685113 (đã qua sử dụng). Bên trong cốp xe có 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 70D1-803.40 (bản gốc). Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị L3, sinh năm 1988, ngụ Khu phố B, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, là chị ruột của bị cáo Nguyễn Thanh N.
- - 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Hoàng L1 (bản gốc).
- - 01 (một) chìa khoá vặn ốc bằng kim loại có chữ GS REBEL 8mm (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu xanh – đen, số IMEI 355043870070696 (đã qua sử dụng).
* Về bồi thường thiệt hại: Anh Phạm Thanh H1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị Bùi Thị T1 yêu cầu bồi thường 3.100.000 đồng. Bà Nguyễn Ngọc H2 yêu cầu bồi thường 8.667.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Kim D yêu cầu bồi thường 20.000.000 đồng. Anh Hồ Ngọc C1 yêu cầu bồi thường 23.333.000 đồng. Chị Lê Thị Lan A yêu cầu bồi thường 8.000.000 đồng. Hiện bị cáo Nguyễn Thanh N chưa bồi thường.
- * Về kê biên tài sản: Các bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Hoàng L1 không có tài sản nên không tiến hành kê biên.
- Đối với những người mua tài sản do Nguyễn Thanh N trộm cắp có được, do không xác định được họ, tên, địa chỉ nên không làm việc được.
- Đối với xe mô tô biển số 70K1-069.38 do Nguyễn Thị L3, sinh năm 1988, ngụ Khu phố B, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, là chị ruột của bị cáo Nguyễn Thanh N đứng tên chủ sở hữu, chị L3 không biết việc N mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội nên không đề nghị xử lý.
Tại bản Cáo trạng số: 51/CT-VKSCT ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Hoàng L1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Hoàng L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a, b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Nguyễn Thanh N từ 04 (bốn) đến 05 (năm) năm tù.
Áp dụng điểm a, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Nguyễn Hoàng L1 từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xem xét giải quyết về biện pháp tư pháp; áp dụng Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự xem xét, giải quyết về phần bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C và thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành và thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh N và Nguyễn Hoàng L1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Khoảng 13 giờ ngày 26/01/2024 tại khu vực ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, các bị cáo N và L1 đã chuẩn bị công cụ và phương tiện, cấu kết chặt chẽ với nhau, lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô trị giá 12.667.000 đồng của anh Phạm Thanh H1, trên đường đi tiêu thụ thì bị phát hiện bắt quả tang.
[3] Ngoài ra, từ ngày 05/10/2023 đến ngày 25/01/2024, trên địa bàn huyện C và thành phố T thuộc tỉnh Tây Ninh, bị cáo N đã lén lút thực hiện 04 vụ, chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị 63.100.000 đồng, cụ thể từng bị hại như sau: Chị Bùi Thị T1 bị trộm 800.000 đồng và 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung trị giá 2.300.000 đồng. Bà Nguyễn Ngọc H2 bị trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 70D1-576.62 trị giá 8.667.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Kim D bị trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria, biển số 70B2-048.68 trị giá 20.000.000 đồng. Anh Hồ Ngọc C1 bị trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future F1 biển số 70D1-801.35 trị giá 23.333.000 đồng. Chị Lê Thị Lan A bị trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, màu đen, biển số 70L1-541.57 trị giá 8.000.000 đồng.
[4] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản Cáo trạng, lời luận tội của Kiểm sát viên, lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh N thực hiện hành vi trộm cắp 05 vụ, chiếm đoạt tài sản có tổng giá trị 75.767.000 đồng đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, b, c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng L1 thực hiện hành vi trộm cắp 01 vụ, chiếm đoạt tài sản có giá trị 12.667.000 đồng đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mỗi bị cáo thực hiện.
[6] Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Thanh N có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Hoàng L1 không có tình tiết tăng nặng.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo N đã tự thú khai ra những lần phạm tội trước ngày bị bắt trong quá trình điều tra. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về áp dụng hình phạt: Xét vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy rằng, vụ án mang tính chất đồng phạm có tổ chức, các bị cáo có sự câu kết chặt chẽ với nhau, mục đích trộm cắp tài sản của các bị cáo là để có tiền tiêu xài. Bị cáo N là người thực hành, trực tiếp chiếm đoạt tài sản và đem bán lấy tiền. Bị cáo L1 là người chủ mưu và là người giúp sức tích cực cho bị cáo N. Các bị cáo đều có nhân thân xấu. Bị cáo N không có nghề nghiệp, có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm, tài sản phạm tội trên 50.000.000 đồng và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Bị cáo L1 có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm. Qua đó thể hiện các bị cáo có ý thức xem thường pháp luật, không có thái độ ăn năn hối cải, tiếp tục phạm tội. Từ các phân tích nêu trên, xét thấy bị cáo N có vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội cao hơn bị cáo L1. Do đó, bị cáo N phải chịu hình phạt cao hơn so với bị cáo L1.
[8] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) xe mô tô biển số 70K1-069.38, màu đỏ (đã qua sử dụng) là xe của bị hại anh Phạm Thanh H1. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H1, nên ghi nhận.
- - 01 (một) cây lục giác bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, có chữ NÓN SƠN (đã qua sử dụng); 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng có 3 sọc màu đỏ, có chữ HÙNG THÔNG 30/4 (đã qua sử dụng); 01 (một) chìa khoá vặn ốc bằng kim loại có chữ GS REBEL 8mm (đã qua sử dụng), là công cụ dùng vào việc phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 (một) áo sơ mi màu đen ngắn tay (đã qua sử dụng); 01 (một) túi xách màu đen, bên ngoài có chữ XIUXIANXILIE (đã qua sử dụng) không phải là vật chứng của vụ án nhưng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh N (bản gốc) là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo N nên trả lại cho bị cáo.
- - 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu REALME màu xanh, số IMEI 860343040376975 (đã qua sử dụng, bị bể nắp lung và nứt màn hình); 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu xanh – đen, số IMEI 355043870070696 (đã qua sử dụng) là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - 01 (một) xe mô tô biển số 70D1-803.40, màu trắng, số khung RLHJA3929NY188145, số máy JA39E2685113 (đã qua sử dụng). Bên trong cốp xe có 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 70D1-803.40 (bản gốc), là xe và giấy chứng nhận của chị Nguyễn Thị L3 cho bị cáo N mượn sử dụng. Chị L3 không biết bị cáo N sử dụng vào việc thực hiện tội phạm nên trả lại cho chủ sở hữu. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị L3 nên ghi nhận.
- - 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Hoàng L1 (bản gốc) là giấy tờ tuỳ thân của bị cáo L1 nên trả lại cho bị cáo.
[9] Về bồi thường thiệt hại: Anh Phạm Thanh H1 đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bị cáo Nguyễn Thanh N phải bồi thường cho 05 bị hại số tiền 63.100.000 đồng.
[10] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[11] Đối với những người mua tài sản do Nguyễn Thanh N trộm cắp có được, do không xác định được họ, tên, địa chỉ. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không làm việc được là có căn cứ.
[12] Đối với xe mô tô biển số 70K1-069.38 do Nguyễn Thị L3, sinh năm 1988, ngụ Khu phố B, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, là chị ruột của bị cáo Nguyễn Thanh N đứng tên chủ sở hữu, chị L3 không biết việc bị cáo N mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là có căn cứ.
[13] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 5% án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 63.100.000 đồng bồi thường thiệt hại cho 05 bị hại theo quy định tại Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Thanh N (Nam mù), Nguyễn Hoàng L1 (C) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm a, b, c, g khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N (Nam mù) 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26/01/2024.
Áp dụng điểm a, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L1 (C) 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/01/2024.
- Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự.
- Ghi nhận anh Phạm Thanh H1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm. Bị cáo Nguyễn Thanh N phải bồi thường thiệt hại cho 05 bị hại còn lại số tiền 63.100.000 (sáu mươi ba triệu một trăm nghìn) đồng, cụ thể bồi thường mỗi người như sau:
- + Chị Bùi Thị T1 3.100.000 (ba triệu một trăm nghìn) đồng.
- + Bà Nguyễn Ngọc H2 8.667.000 (tám triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn) đồng.
- + Chị Nguyễn Thị Kim D 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- + Anh Hồ Ngọc C1 23.333.000 (hai mươi ba triệu ba trăm ba mươi ba nghìn) đồng.
- + Chị Lê Thị Lan A 8.000.000 (tám triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây lục giác bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh, có chữ NÓN SƠN (đã qua sử dụng); 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng có 3 sọc màu đỏ, có chữ HÙNG THÔNG 30/4 (đã qua sử dụng); 01 (một) túi xách màu đen, bên ngoài có chữ XIUXIANXILIE (đã qua sử dụng); 01 (một) chìa khoá vặn ốc bằng kim loại có chữ GS REBEL 8mm (đã qua sử dụng);01 (một) áo sơ mi màu đen ngắn tay (đã qua sử dụng)
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu REALME màu xanh, số IMEI 860343040376975 (đã qua sử dụng, bị bể nắp lung và nứt màn hình); 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu xanh – đen, số IMEI 355043870070696 (đã qua sử dụng).
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh N: 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh N (bản gốc).
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng L1: 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Hoàng L1 (bản gốc).
- - Ghi nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Phạm Thanh H1: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển số 70D1-803.40.
- - Ghi nhận cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Thị L3: 01 (một) xe mô tô biển số 70D1-803.40, màu trắng, số khung RLHJA3929NY188145, số máy JA39E2685113 (đã qua sử dụng). Bên trong cốp xe có 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 70D1-803.40 (bản gốc).
(Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đang quản lý).
- Về án phí: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Thanh N (Nam mù), Nguyễn Hoàng L1 (C), mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 3.155.000 (ba triệu một trăm năm mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho các bị cáo, bị hại biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Phượng |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thanh N và Lê Hoàng L phạm tội "Trộm cắp tài sản"
