|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Út
- Bà Nguyễn Thị Minh Trâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 209/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Thị Ngọc T - sinh năm 1993 (có yêu cầu xét xử vắng mặt);
- Bị đơn: Ông Phùng Ngọc L – sinh năm 1992 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Khu phố C, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Thị Ngọc T trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông Phùng Ngọc L tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2009, có tổ chức cưới hỏi; tuy nhiên đến ngày 09/10/2012 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố P - T. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng do ông L mê cờ bạc, ghen tuông vô cớ, vợ chồng thường xuyên cãi nhau; đỉnh điểm vào Tết Nguyên đán năm 2024, ông L có hành vi đánh bà, dẫn đến bà phải nhập viện, công an phường có lập biên bản về hành vi đánh bà của ông L. Đầu tháng 3/2024, vợ chồng đã không còn sống chung với nhau, bà về nhà sống cùng với mẹ ruột.
Nếu vợ chồng quay trở về chung sống với nhau thì cũng sẽ không hạnh phúc vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ. Bà đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phùng Ngọc L.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng bà có 03 con chung: Phùng Lâm K, sinh ngày 12/10/2009, Phùng Lâm K1, sinh ngày 04/11/2012 và Phùng Nhật Anh K2, sinh ngày 01/9/2019. Hiện 03 con chung đang sinh sống cùng bà. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Phùng Ngọc L: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông L không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đối với bị đơn: Mặc dù đã được Toà án tống đạt, niêm yết hợp lệ các thông báo tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt, không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là thực hiện đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông bà Trần Thị Ngọc T.
Về hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc T được ly hôn với ông Phùng Ngọc L.
Về con chung: Giao 03 con chung tên Phùng Lâm K, sinh ngày 12/10/2009, Phùng Lâm K1, sinh ngày 04/11/2012 và Phùng Nhật Anh K2, sinh ngày 01/9/2019 cho bà Trần Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông L không cấp dưỡng nuôi con chung do bà T không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn ông Phùng Ngọc L. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc vắng mặt nguyên đơn, bị đơn:
Đối với nguyên đơn, tại “Đơn xin giải quyết vắng mặt” ngày 27/8/2024, nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc T xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, những ý kiến đã khai tại Tòa án; đối với bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trần Thị Ngọc T và ông Phùng Ngọc L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2000, có tổ chức cưới hỏi, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận ngày 09/10/2012; Hội đồng xét xử xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị Ngọc T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn ông Phùng Ngọc L, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn bà T trình bày là do ông L mê cờ bạc, hay ghen tuông vô cớ, vợ chồng thường xuyên cãi nhau; đỉnh điểm vào Tết Nguyên đán năm 2024, ông L có hành vi đánh bà T, dẫn đến bà phải nhập viện, công an phường có lập biên bản về hành vi đánh bà của ông L. Đầu tháng 3/2024, vợ chồng đã không còn sống chung với nhau, bà về nhà sống cùng với mẹ ruột, trong thời gian ly thân vợ chồng bà không gặp nhau, không ai đặt vấn đề quay lại sống chung. Lời trình bày của bà T phù hợp với kết quả xác minh tại Công an phường V và Công an phường M thể hiện vợ chồng bà T và ông L có xảy ra xô xát và ông L đã đánh bà T nhập viện. Mặc khác, ông L biết việc bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng không tham gia tố tụng thể hiện ông L không có thiện chí và không có nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xét thấy hôn nhân giữa bà T và ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc T.
[2.2] Về con chung:
Trong quá trình chung sống vợ chồng bà T và ông L có 03 con chung: Phùng Lâm K, sinh ngày 12/10/2009, Phùng Lâm K1, sinh ngày 04/11/2012 và Phùng Nhật Anh K2, sinh ngày 01/9/2019. Xét yêu cầu được nuôi 03 con chung của bà T, thấy rằng: Từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và không sống chung (tháng 3/2024), 03 cháu K, K1 và K2 do bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu K1 và cháu K có nguyện vọng được ở với bà T, bà T có công việc và thu nhập ổn định nên giao 03 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà T không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Tài sản chung và nợ chung:
Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P-T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Ngọc T được ly hôn ông Phùng Ngọc L.
- Về con chung: Giao cho bà Trần Thị Ngọc T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung tên Phùng Lâm K, sinh ngày 12/10/2009, Phùng Lâm K1, sinh ngày 04/11/2012 và Phùng Nhật Anh K2, sinh ngày 01/9/2019. Ông Phùng Ngọc L không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do bà T không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002537 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Bà T đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
