|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/8/2024 V/v: “Xin ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà: Nguyễn Thị Bé Em
- Ông: Lê Anh Giàu
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Lan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 269/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024, về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- + Nguyên đơn: Huỳnh M, sinh năm 1990. Có đơn xin vắng mặt.
- Địa chỉ: Số A, đường N, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- + Bị đơn: Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1983. Có đơn xin vắng mặt.
- Địa chỉ: Số A, ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn là chị Huỳnh M có đơn xin vắng mặt nhưng có lời trình bày tại đơn khởi kiện ngày 26/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
Chị và anh Nguyễn Hoàng T tự nguyện kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A1 (nay là phường A), thành phố B, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu, thời gian sau thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Mặc dù hai bên đã cố gắng hòa hợp để hàn gắn nhưng không được nên chị và anh T đã ly thân từ tháng 02 năm 2023 đến nay. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn lại được nên chị làm đơn xin ly hôn với anh T. Chị không yêu cầu việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau ly hôn.
Trong thời gian chung sống chị và anh T có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh A, sinh ngày 03/11/2018 hiện chị đang nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Chị và anh T không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn là anh Nguyễn Hoàng T vắng mặt tại toà nhưng có lời trình bày tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 11/7/2024 như sau: Anh T đồng ý ly hôn theo đơn yêu cầu của chị Huỳnh M nhưng do bận đi làm ăn nên yêu cầu Toà án tiến hành giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt. Anh T không có yêu cầu gì khác
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh M được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.
- - Về con chung: Chị M được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Huỳnh A, sinh ngày 03/11/2018. Ghi nhận chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét đến.
- - Tuyên án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe kiểm sát viên phát biểu ý kiến. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Huỳnh M và bị đơn là anh Nguyễn Hoàng T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Xét thấy, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn cho thấy, đây là vụ kiện “Xin ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn có nơi cư trú tại xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
[3] Về nội dung vụ án: Chị Huỳnh M và anh Nguyễn Hoàng T tự nguyện kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A1 (nay là phường A), thành phố B, tỉnh Bến Tre. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên đã ly thân cho đến nay. Chị M cho rằng, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống tính tình không phù hợp. Chị nhiều lần động viên khuyên giải và tạo điều kiện để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Nay, chị khẳng định tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn với anh T. Anh T cũng đồng ý ly hôn nhưng do bận đi làm ăn xa nên anh xin vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nhưng do anh T và chị M vắng mặt tại tòa nên Hội đồng xét xử không thể ghi nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị được mà căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị M và anh T được ly hôn. Chị M không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau ly hôn nên ghi nhận.
[4] Trong quá trình chung sống, anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Huỳnh A, sinh ngày 03/11/2018 hiện chị M đang nuôi dưỡng. Chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn không những là quyền mà còn là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Hiện cháu Huỳnh A đang sống với chị M, chị M vẫn đảm bảo được việc nuôi dạy con tốt không có vi phạm gì, anh T cũng không có yêu cầu gì khác. Để đảm bảo cho đời sống của con sau này và để không làm xáo trộn cuộc sống của con nên chấp nhận yêu cầu của chị M. Xử cho chị M được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp và ghi nhận chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị M khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.
[6] Về án phí: Chị M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng.
[7] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh M đối với anh Nguyễn Hoàng T.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh M và anh Nguyễn Hoàng T được ly hôn. Ghi nhận việc chị M không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau ly hôn.
2. Về con chung: Chị Huỳnh M được trực tiếp trông nom chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Huỳnh A, sinh ngày 03/11/2018 cho đến khi cháu Huỳnh A tròn 18 tuổi. Ghi nhận chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị M khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.
4. Về án phí: Chị Huỳnh M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Do chị M đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng nên được khấu trừ theo biên lai số 0002665 ngày 02/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre. Chị M đã nộp xong án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thuý Hằng |
Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE về xin ly hôn
- Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh M xin ly hôn với Nguyễn Hoàng T
