Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2024

V/v: Tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Khắc Hiếu và bà Phan Thị Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phụng Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 tháng 5 và ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 495/2023/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/QĐXX-ST ngày 08/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/4/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2024/QĐST-DS ngày 15/5/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1995;

Địa chỉ: thôn M, xã A, huyện T, Phú Yên.

2. Bị đơn: Ông Bùi Đại P, sinh năm: 1991;

Địa chỉ: thôn L, xã A, thành phố T, Phú Yên.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi (Thấm) và ông Trần Đại P1 tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, thành phố T vào năm 2020. Sau khi kết hôn, ông P1 không quan tâm chăm lo gia đình mà ăn chơi cờ bạc. Đến năm 2021 thì ông P1 bị bắt đi chấp hành án phạt tù về tội “Đánh bạc” tại Trại giam X, mức án 04 năm 03 tháng tù. Sau khi ông P1 đi tù tôi cũng nhiều lần đi thăm nuôi nhưng thấy không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân được nữa nên tôi làm đơn xin được ly hôn với ông P1. Hiện ông P1 đã chấp hành án phạt tù xong và về lại địa phương, nhưng chúng tôi cũng không tiếp tục sống chung. Nay thấy tình cảm không còn, không thể tiếp tục chung sống được nữa nên tôi đề nghị Tòa giải quyết cho tôi được ly hôn với ông P1 để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Bùi Bảo N, sinh ngày 13/10/2020, hiện đang sống cùng tôi. Ly hôn tôi xin nuôi con và không yêu cầu ông P1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin được ly hôn với bị đơn; về con chung: xin nuôi con chung là Bùi Bảo N, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con và trình bày con chung đã sống cùng với bị đơn khoảng từ cuối tháng 4/2024 cho đến nay; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nguyên đơn được ly hôn bị đơn. Về con chung: Giao con chung là Bùi Bảo N cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không xét. Về án phí: nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Bùi Đại P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và bị đơn ông Bùi Đại P tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, thành phố T vào năm 2020, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn như đương sự đã trình bày. Hiện vợ chồng đã không còn sống chung với nhau, không còn ai quan tâm đến ai, là vi phạm nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Bùi Bảo N, sinh ngày 13/10/2020. Ly hôn bà T xin được nuôi con và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: Theo trình bày của bà T, từ sau khi ông P đi chấp hành án phạt tù thì con vẫn luôn sống cùng với bà; đến khoảng cuối tháng 4/2024 khi ông P xin được thăm gặp con, đã dẫn con về sống với ông. Căn cứ Biên bản xác minh ngày 28/5/2024, Công an xã A, thành phố T xác định: Cháu Bùi Bảo N hiện đang sống cùng ông Bùi Đại P tại thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; đồng thời Công an xã A cung cấp thông tin: Ông Bùi Đại P có đi chấp hành án phạt tù về tội “Đánh bạc” từ ngày 18/3/2021 tại Trại giam X; đến ngày 07/02/2024, ông P chấp hành xong án phạt tù về lại địa phương. Như vậy, trong khoảng thời gian ông P đi chấp hành án phạt tù, cháu N do bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của con nên nay ly hôn bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con là có căn cứ nên chấp nhận; giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông P đã được Tòa án triệu tập lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa, không đưa ra yêu cầu về con chung nên không xem xét. Do bà T không yêu cầu nên ông P không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[5] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Bùi Đại P.

- Về con chung: Giao 01 con chung là Bùi Bảo N, sinh ngày 13/10/2020 (hiện con đang sống cùng với ông Bùi Đại P tại thôn L, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên) cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Bùi Đại P không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0012711 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Viện KSND thành phố Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Tuy Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã An Phú, Tuy Hòa;
  • (Giấy CNKH số 39, ngày 13/6/2020)
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Lê Mai

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Khắc Hiếu

Phan Thị Oanh

Trần Lê Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn xin ly hôn bị đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger