Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HSST

Ngày: 20-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Lê Thị Bé Bảy

Ông Võ Quí Quốc

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Minh Cường, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Công Em - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn S, sinh ngày 09/7/1985 tại tỉnh Tiền Giang. Tên gọi khác: Sơn M; Số CCCD: [...]. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: số B Bis X, Phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (1962) và bà Trần Thị H (1958); Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc D (đã ly hôn) và có 02 người con (sinh năm 2004 và 2008).

Tiền sự: 01. Ngày 07/12/2021 tại Quyết định số 3478/QĐ-XPHC bị Công an thành phố M xử phạt hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi Gây rối trật tự công cộng.

Tiền án: 01. Ngày 02/12/2009 tại Bản án số 878/2009/HSPT bị Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 17 năm tù về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/5/2020.

Bị cáo được điều tra tại ngoại, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

*Người bị hại: Nguyễn Hoàng D1, sinh năm: 1992. Có mặt

Địa chỉ: số H L, Phường D, thành phố M, Tiền Giang.

* Người làm chứng:

Huỳnh Thị Mỹ P, sinh năm 1985. Xin vắng mặt

Địa chỉ: số D L, Phường F, thành phố M, Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn S và chị Huỳnh Thị Mỹ P trước đây có chung sống với nhau như vợ chồng nhưng đã chia tay vào tháng 6/2023. Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 05/8/2023, sau khi đã uống rượu thì S nhờ người bạn tên P1 (không rõ họ tên, địa chỉ) chở về nhà. Khi đến đoạn trước cổng sau Sân vận động tỉnh T trên đường T thuộc Phường F thì S nhìn thấy anh Nguyễn Hoàng D1 đang điều khiển xe mô tô biển số 63C1-488.04 chở chị P chạy phía trước cùng chiều. Lúc này do ghen tuông nên S kêu P1 chạy xe vượt lên xe của D1 để S nói chuyện với D1. Khi xe của S chạy gần tới xe của D1 thì chị P nói với D1 “thấy thằng S” thì D1 quay mặt lại nhìn nên xe của D1 bị ngã trên đường. S liền xuống nhặt tại quán giải khát 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 40cm, cán bằng gỗ dài khoảng 10cm, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 30cm, nơi rộng nhất lưỡi dao 04cm, sắc bén một mặt, mũi dao bằng rồi rượt đuổi D1. Chạy khoảng 05m thì đuổi kịp, S cầm dao bằng tay phải chém theo hướng từ sau tới trúng 01 cái vào vùng thái dương phải và 01 cái vào cánh tay phải của anh D1 gây thương tích. Sau đó anh D1 được người dân đưa đến Bệnh viện Q để cấp cứu. Sau khi gây thương tích, S được P1 chở đi tẩu thoát, khi tới cầu N thì S ném bỏ dao xuống sông.

Theo giấy chứng nhận thương tích số 911/CNTT23-BV ngày 08/8/2023 của Bệnh viện Q ghi nhận tình trạng thương tích của Nguyễn Hoàng D1 lúc vào viện gồm: vết thương thái dương phải kích thước khoảng (8x1)cm, bờ mép sắc gọn, đáy sạch, sờ chạm xương sọ não, không có vỡ xương sọ, chảy máu rỉ rả; vết thương 1/3 giữa mặt ngoài xương sau cánh tay phải có kích thước khoảng (6x1)cm, bờ mép sắc gọn, đáy sạch, thấy tổ chức hạ bì, máu đã tự cầm.

Tại bản kết luận tổn thương trên cơ thể người sống số 297-2023/KLTTCT-TTPY ngày 15/8/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Hoàng D1 là 04%, do vật sắc gây nên.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận giám định nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKSMT ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã truy tố Trần Văn S để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự (BLHS).

*Tại phiên tòa:

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn S về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; Phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Về hình phạt: Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng.

-Bị cáo Trần Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã nêu. Bị cáo không bào chữa hay tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nhưng xin được bồi thường dần vì hiện tại không có khả năng. Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo biết sai, là lao động chính trong gia đình, rất hối hận về hành vi đã gây ra.

-Bị hại vẫn giữ yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật, yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về chi phí điều trị, mất việc làm và tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 30.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn S đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định pháp y về thương tích, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra thu thập được, đã được Hội đồng xét xử thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 05/8/2023 tại cổng sau Sân vận động tỉnh T, trên đường T, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Trần Văn S mặc dù không có mâu thuẫn với anh Nguyễn Hoàng D1 nhưng đã vô cớ dùng con dao bằng kim loại là hung khí nguy hiểm chém anh D1 gây thương tích với tỷ lệ 04%.

Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định điểm a, i khoản 1 Điều 134 của BLHS với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” là có cơ sở. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích” như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo đã làm mất trật tự trị an xã hội, xâm phạm sức khỏe của người khác, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Bị cáo và anh D1 không có mâu thuẫn gì, anh D1 té ngã và bỏ chạy nhưng bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại, vì vậy xác định hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần xử bị cáo với mức án tương xứng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội do bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên được xác định là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Đối với người tên P1 là người đi chung với bị cáo S, do S không xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không thể triệu tập làm việc, sẽ tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Hoàng D1 yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích, ngày công lao động, tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 30.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường nên cần buộc bị cáo bồi thường khi án có hiệu lực pháp luật.

[7] Đối với con dao bị cáo dùng để gây thương tích, theo S khai trên đường bỏ chạy đã ném xuống sông tại khu vực cầu N, Phường G, thành phố M, đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[9] Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử có cân nhắc khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Về hình phạt:

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 50; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Văn S 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 584, 585, 590, 357 Bộ luật dân sự

Buộc bị cáo Trần Văn S bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Nguyễn Hoàng D1 với số tiền là 30.000.000 đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày anh D1 có yêu cầu thi hành án, trường hợp bị cáo chậm thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HSST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 65/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cố ý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger