Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI -TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày 20-6-2024

V/v “ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Hồng Vân.

2/ Bà Hà Thị Dung.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 525/2023/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa 35a/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, Thông báo dời lịch xét xử số 01/TB-TA ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Phạm Tuấn Anh, sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt);

    Địa chỉ: ấp An Thới, xã An Qui, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

  2. Bị đơn: Chị Dương Thị Kim Thương, sinh năm 1996 (vắng mặt);

    Địa chỉ: khu phố An Thuận, thị trấn Tiệm Tôm, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 28/11/2023, trong quá trình tố tụng nguyên đơn anh Phạm Tuấn Anh trình bày:

Anh và chị Dương Thị Kim Thương kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Thủy (thị trấn Tiệm Tôm) vào ngày 23/01/2016. Sau khi cưới, anh đi biển (tàu đánh bắt cá) 05-06 tháng về nhà một lần, đi biển được khoảng 05 năm thì anh đi làm công ty được 07-08 tháng thì bị tai nạn ở chân phải điều trị hơn 01 năm mới đi được. Trong thời gian điều trị thì chị Thương không quan tâm đến anh. Sau khi sức khỏe tốt, chị Thương cũng không quan tâm gì đến anh; anh tiếp tục đi làm, chị Thương cũng đi làm nhưng làm gì thì anh không rõ. Anh và chị Thương không liên hệ với nhau, thỉnh thoảng anh có qua thăm con cũng không gặp chị Thương. Anh nhận thấy, hôn nhân giữa anh và chị Thương không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với chị Thương.

Về con chung: Anh đồng ý giao cháu Phạm Thị Tuyết Ngân, sinh ngày 07/5/2014 và cháu Phạm Thị Tuyết Nhi sinh ngày 10/11/2018 cho chị Thương nuôi dưỡng, Anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng/cháu. Về tài sản chung, nợ chung anh và chị Thương không có.

* Bị đơn chị Dương Thị Kim Thương đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.

* Theo biên bản lấy ý kiến, cháu Phạm Thị Tuyết Ngân có nguyện vọng sống chung bà ngoại và mẹ là chị Dương Thị Kim Thương.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri trình bày quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục. Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục phiên tòa. Đương sự, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đúng quyền nghĩa vụ. Về quan điểm giải quyết vụ án: Anh Phạm Tuấn Anh và chị Dương Thị Kim Thương có đăng ký kết hôn đúng quy định tại Ủy ban nhân dân xã An Thủy (nay là thị trấn Tiệm Tôm) vào ngày 23/01/2016 nên hôn nhân là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, đôi bên phát sinh mâu thuẫn; chị Thương vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Từ đó nhận thấy, hôn nhân giữa anh Tuấn Anh và chị Thương đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của anh Tuấn Anh là có cơ sở. Về con chung: Cháu Phạm Thị Tuyết Ngân, sinh ngày 07/5/2014 và cháu Phạm Thị Tuyết Nhi, sinh năm 10/11/2018 hiện sống bên gia đình chị Thương và anh Tuấn Anh đồng ý để chị Thương tiếp tục nuôi dưỡng; cháu Ngân có nguyện vọng sống với bà ngoại và chị Thương nên giao con chung cho chị Thương nuôi là phù hợp. Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị chấp nhận yêu cầu của anh Tuấn Anh về việc yêu cầu ly hôn với chị Thương. Giao con chung cho chị Thương nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của anh Tuấn Anh cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 1.000.000 đồng/ cháu đến khi con chung tròn 18 tuổi. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Töø caùc lôøi trình baøy treân;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Nguyên đơn anh Phạm Tuấn Anh có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn chị Dương Thị Kim Thương vắng mặt không lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Tuấn Anh, chị Thương là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Tuấn Anh và chị Dương Thị Kim Thương kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Thủy (nay là thị trấn Tiệm Tôm) vào ngày 23/01/2016 nên quan hệ hôn nhân giữa anh Tuấn Anh và chị Thương là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh Tuấn Anh và chị Thương không có sự quan tâm chia sẻ nên phát sinh mâu thuẫn, và đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2022. Chị Thương đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; điều đó đồng nghĩa với việc chị Thương tự tước đi quyền phản bác ý kiến đối với yêu cầu của anh Tuấn Anh. Xét tình trạng hôn nhân giữa anh Tuấn Anh và chị Thương không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Tuấn Anh đối với chị Thương.

  2. Về con chung: Anh Phạm Tuấn Anh đồng ý để cháu Phạm Thị Tuyết Ngân, sinh ngày 07/5/2014 và cháu Phạm Thị Tuyết Nhi, sinh năm 10/11/2018 cho chị Thương tiếp tục nuôi dưỡng; cháu Ngân có nguyện vọng sống với bà ngoại và mẹ. Qua xác minh, bà Nguyễn Thị Tho mẹ ruột chị Thương có ý kiến là gia đình bà hỗ trợ chị Thương nuôi tốt cháu Ngân và cháu Nhi. Do đó, giao cho chị Thương tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ngân và cháu Nhi là phù hợp theo Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị Thương không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nhưng anh Tuấn Anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Ngân và cháu Nhi mỗi tháng 1.000.000 đồng/cháu. Việc anh Tuấn Anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là phù hợp theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

  3. Tài sản chung: Anh Tuấn Anh trình bày không có.

  4. Về nợ chung: Anh Tuấn Anh trình bày không có.

  5. Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

  6. Về án phí hôn nhân và gia đình + án phí cấp dưỡng sơ thẩm: 600.000₫ (Sáu trăm ngàn đồng) anh Phạm Tuấn Anh phải nộp theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Tuấn Anh đối với chị Dương Thị Kim Thương.

  2. Con chung: Chị Dương Thị Kim Thương nuôi cháu Phạm Thị Tuyết Ngân, sinh ngày 07/5/2014 và cháu Phạm Thị Tuyết Nhi, sinh năm 10/11/2018. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Tuấn Anh cấp dưỡng nuôi cháu Ngân và cháu Nhi mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)/cháu đến khi cháu Ngân và cháu Nhi tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Anh Phạm Tuấn Anh có quyền thăm nom con chung. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con.

  3. Tài sản chung: Anh Tuấn Anh trình bày không có

  4. Nợ chung: Anh Tuấn Anh trình bày không có.

  5. Án phí hôn nhân và gia đình + án phí cấp dưỡng sơ thẩm: 600.000₫ (Sáu trăm ngàn đồng) anh Phạm Tuấn Anh phải nộp và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000146 ngày 08 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Sau khi khấu trừ, anh Tuấn Anh còn phải nộp tiếp án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.

Trường hợp baûn aùn, quyết ñịnh ñược thi haønh theo quy ñịnh tại Điều 2 Luật Thi haønh aùn daân sự thì người ñược thi haønh aùn daân söï, người phải thi haønh aùn daân söï coù quyền thỏa thuận thi haønh aùn, quyền yeâu cầu thi haønh aùn, tự nguyện thi haønh aùn hoặc bị cưỡng chế thi haønh aùn theo quy ñònh tại caùc ñieàu 6, 7, 7a, 7b vaø 9 Luật Thi haønh aùn daân sự; thời hiệu thi haønh aùn ñược thực hiện theo quy ñịnh tại Niều 30 Luật thi haønh aùn daân sự.

Baùo cho nguyên đơn, bị đơn bieát coù quyeàn khaùng caùo trong thôøi haïn 15 ngaøy keả từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - UBND TT Tiệm Tôm;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger