Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST
Ngày: 20 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.
Ông Đào Khel.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trịnh Thuận L (tên gọi khác: L1), sinh ngày: 22/11/1994 tại Sóc Trăng. Nơi thường trú: số H, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S. Nơi ở hiện nay: Nhà trọ 60, đường P, Khóm C, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: làm hồ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: hoa; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Thuận H và bà Nguyễn Thị H1; vợ Trịnh Thị D, con chưa có; tiền sự: không; tiền án: 02 lần, lần thứ nhất: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 75/2020/HS-ST, ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về “Tội trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 07/12/2021 (chưa được xóa án tích); lần thứ hai: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2023/HS-ST, ngày 22 tháng 02 năm 2023, của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù, về “Tội trộm cắp tài sản”; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 43/2018/HS-ST ngày 27/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 30/10/2018 (đã xóa án tích). Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác (có mặt).

- Bị hại: Chi nhánh Công trình V thuộc Tập đoàn C (V). Địa chỉ: đường T, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1989. Địa chỉ: số I, đường V, Khóm C, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Hình Vũ K, sinh năm 1971. Địa chỉ số D, đường Đ, Khóm A, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện tại A, đường L, Khóm A, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1974. Địa chỉ số H, đường T, Khóm A, Phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện tại Nhà trọ 610, đường T, Khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 17 tháng 6 năm 2023, Trịnh Thuận L gặp Hình V và Nguyễn Nhựt T tại Khu vực chợ T2 thành phố S. Khi gặp nhau thì T rủ cả nhóm đi tìm tài sản của người khác để lấy trộm, thì tất cả đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô 83H2-9375 chở T, còn K1 thì điều khiển xe mô tô 63T1-3687 đi một mình.

Sau đó, cả nhóm đi vào hẻm D, đường T, phường C, thành phố S, khi đi vào trong hẻm thì L thấy trạm phát sóng của V không có người trông coi, bị cáo L xuống xe đi vào trạm một mình, T ở ngoài trông xe, còn K1 thì đậu xe gần đó. Khi vào trạm thì L dùng hai cây chìa khóa số 14 đã chuẩn bị sẵn rồi đi đến cửa trạm phát sóng dùng hai cây chìa khóa để mở khóa đi vào trong thấy có Cục lạnh (Dàn lạnh) của máy điều hòa nhiệt độ gắn trong phòng, L mới tháo lấy Cục lạnh ôm ra trước cửa trạm và kêu T lấy một cái bao nylon để bỏ Cục lạnh vào bao rồi để T ôm ra xe, sau đó L điều khiển xe mô tô 83H2-9375 chở T đi bán Cục lạnh tại nhà số A, đường N, Khóm B, Phường B, thành phố S bán cho ông Nguyễn Vũ T1 với giá 350.000 đồng. Sau khi có được tiền thì L, T và K1 cùng mua ma túy và cùng nhau sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 92/KL.ĐGTS ngày 03 tháng 7 năm 2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND Thành phố S, tỉnh Sóc Trăng kết luận: 01(Một) cục lạnh (dàn lạnh, đầu máy lạnh) hiệu LG, Inverter V, xuất xứ: Thái Lan; Công suất: 3,52 KW; hiệu suất năng lượng: 4,71, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại là 70%. Có giá trị qua định giá là 3.360.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 75/CT-VKSTPST ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Trịnh Thuận L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Trịnh Thuận L và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Trịnh Thuận L phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt được thu giữ kịp thời trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn theo quy định tại h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị áp dụng Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

  • Trả lại cho ông H3 Vũ Khách: 01 (một) xe mô tô biển số 63T1-3687, nhãn hiệu Yamaha, màu đỏ, đen, số máy 5P11-150425; số khung P11AY150431, đã qua sử dụng.
  • Trả lại cho bà Nguyễn Thị H1: 01 (một) xe mô tô biển số 83H2-9375, nhãn hiệu Honda, màu xanh, số máy 52 QMIB41027081; số khung N0841067404, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Thuận L thừa nhận hành vi phạm tội, không trình bày tranh luận bào chữa và tại lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Văn H2, người liên quan ông Hình Vũ K và bà Nguyễn Thị H1 vắng mặt và việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  2. [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  3. [3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trịnh Thuận L thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 17 tháng 6 năm 2023, bị cáo Trịnh Thuận L, Hình V và Nguyễn Nhựt T, đã lén lút lấy trộm tài sản tại trạm phát sóng của Công trình V chi nhánh S, tại hẽm D, đường T, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng do bị hại Nguyễn Văn H2 là người quản lý, tài sản chiếm đoạt là 01 (một) cục lạnh (dàn lạnh, đầu máy lạnh) hiệu LG, Inverter V, xuất xứ: Thái Lan; Công suất: 3,52 KW; hiệu suất năng lượng: 4,71, qua định giá có giá 3.360.000 đồng.
  4. [4] Theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm... g) Tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý lén lút lấy trộm tài sản của bị hại có giá trị 3.360.000 đồng, trước khi phạm tội bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích về tội trộm cắp tài sản lần thứ nhất: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 75/2020/HS-ST, ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về “Tội trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 07/12/2021 (chưa được xóa án tích); lần thứ hai: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2023/HS-ST, ngày 22 tháng 02 năm 2023, của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù, về tội “trộm cắp tài sản”; nên lần phạm tội này thuộc tình tiết định khung tái phạm nguy hiểm, nên hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.
  5. [5] Đây là vụ án có nhiều bị cáo tham gia, nhưng giữa các bị cáo không có phân công vai trò cụ thể, cho nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó Nguyễn Nhựt T có vai trò là người khởi xướng, rủ rê. Còn bị cáo Trịnh Thuận L và Hình Vũ K2 là người thực hành tích cực.
  6. [6] Đối với bị cáo Nguyễn Nhựt T và Hình V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã ra Quyết định khởi tố bị cáo và ra Lệnh bắt các bị cáo để tạm giam, nhưng hiện nay các bị cáo đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra lệnh truy nã đối với các bị cáo và ra Quyết định tách vụ án khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
  7. [7] Đối với ông Nguyễn Vũ T1: Có hành vi mua tài sản của các bị cáo trộm cắp mà có. Tuy nhiên, ông T1 không biết được tài sản này do các bị cáo phạm tội mà có, nên không xử lý hình sự đối với ông T1.
  8. [8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  9. [9] Về nhân thân: Vào ngày 27/6/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 09 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 30 tháng 10 năm 2018 (đã xóa án tích).
  10. [10] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, tài sản bị cáo chiếm đoạt được thu giữ kịp thời trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn nên được xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  11. [11] Về hình phạt: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên là xử phạt bị cáo hình phạt tù với một thời gian nhất định đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
  12. [12] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 (một) xe mô tô biển số 63T1-3687, nhãn hiệu Yamaha, màu đỏ, đen, số máy 5P11-150425; số khung P11AY150431, đã qua sử dụng của ông Hình Vũ K là cha của Hình Vũ K2 và 01 (một) xe mô tô biển số 83H2-9375, nhãn hiệu Honda, màu xanh, số máy 52 QMIB41027081; số khung N0841067404, đã qua sử dụng của bà Nguyễn Thị H1 là mẹ của bị cáo L, nên cần trả lại cho ông K và bà H1.
  13. [13] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét.
  14. [14] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  15. [15] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; khoản 2 Điều 56; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: bị cáo Trịnh Thuận L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt: bị cáo Trịnh Thuận L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2023/HS-ST ngày 22/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, buộc bị cáo phải chấp hành chung là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành án hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 6 năm 2023.
  3. Về xử lý vật chứng:
    • Trả lại cho ông H3 Vũ Khách: 01 (một) xe mô tô biển số 63T1-3687, nhãn hiệu Yamaha, màu đỏ, đen, số máy 5P11-150425; số khung P11AY150431, đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho bà Nguyễn Thị H1: 01 (một) xe mô tô biển số 83H2-9375, nhãn hiệu Honda, màu xanh, số máy 52 QMIB41027081; số khung N0841067404, đã qua sử dụng.

    Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.

  4. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người đại diện hợp pháp bị hại là ông Nguyễn Văn H2 không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét.
  5. Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Thuận L phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND TP Sóc Trăng (1);
  • - Công an TP Sóc Trăng (Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ, Cơ quan THAHS, Cơ quan cảnh sát điều tra) (3);
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng (1);
  • - Bị cáo (1), Bị hại (1),Người liên quan (2);
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng, hồ sơ THAHS (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger