Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày: 18/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Tám

Ông Lê Văn Tám

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phạm Kiều Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Duy Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn N, sinh ngày 02 tháng 3 năm 2000 tại tỉnh Tiền Giang; căn cước công dân: [...]; Nơi đăng ký thường trú: ấp K, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1973 và bà Cao Thị D, sinh năm 1977; anh chị em có 02 người, bị cáo là con lớn trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 22/01/2024 cho đến nay (có mặt).

Bị hại:

Đặng Lệ T, sinh năm 1973 (có mặt);

Địa chỉ: ấp K, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8/2023 Huỳnh Văn N, sinh năm 2000, nơi thường trú: ấp K, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang làm thuê cho bà Đặng Lệ T, sinh năm 1973, nơi thường trú: ấp K, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang tại vựa mua bán hải sản tên Thu V tại chợ M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Quá trình làm cho bà T, N phát hiện bà T để tiền trong ngăn tủ và không khóa nên nảy sinh ý định lấy trộm tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 18/01/2024 lợi dụng lúc bà T buôn bán cá quay lưng về hướng bàn để tiền, N đi lại tủ để tiền và dùng tay kéo ngăn tủ ra lấy trộm số tiền 2.200.000 đồng. Do nghi ngờ bị mất tiền nên bà T kiểm tra camera thì phát hiện N nhiều lần đến ngăn tủ bàn của bà T lấy trộm tiền nên trình báo Công an xã M. Quá trình điều tra, N thừa nhận 24 lần lấy trộm tiền trong ngăn tủ của bà T, mỗi lần lấy từ 200.000 đồng đến khoảng 1.000.000 đồng (nhưng không nhớ cụ thể là bao nhiêu tiền trong mỗi lần lấy trộm). Tổng số tiền Huỳnh Văn N thừa nhận lấy trộm của bà T là 25.000.000 đồng. Số tiền lấy trộm N sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân.

Bản kết luận giám định số 462/KL-KTHS ngày 21/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép, chỉnh sửa hình ảnh trong 02 tập tin video ký hiệu M1, M55. Tuy nhiên, không xác định được nội dung hình ảnh phát trên màn hình xuất hiện trong tập tin video kí hiệu M1, M55 có bị cắt ghép chỉnh sửa không.
  • Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt, ghép nội dung hình ảnh trong 49 tập tin video ký hiệu từ M2 đến M50.
  • Phát hiện dấu hiệu cắt, ghép nội dung hình ảnh trong 04 tập tin video ký hiệu từ M51 đến M54.
  • Quan sát nội dung hình ảnh đối tượng trong 55 tập tin video xác định như sau:
    • Không quan sát thấy hành động của đối tượng trong 15 tập tin video ký hiệu M3, M6, M7, M11, M12, M14, M24, M25, M33, M34, M35, M37, M39, M40, M44 mở ngăn tủ lấy tiền.
    • Quan sát thấy hành động của đối tượng trong 25 tập tin video ký hiệu M2, M4, M5, M8, M9, M10, M13, M15, M16, M17, M18, M19, M20, M21, M22, M23, M26, M27, M28, M29, M30, M31, M32, M36, M38 có mở tủ lấy tiền. Tuy nhiên không đủ cơ sở xác định số lượng, hình ảnh mệnh giá số tiền bị lấy.
    • Không tiến hành giám định nội dung hình ảnh 15 tập tin video ký hiệu M1, M41, M42, M43, M45, M46, M47, M48, M49, M50, M51, M52, M53, M54, M55. Do trùng nội dung hình ảnh và không xác định được nội dung hình ảnh phát trên màng hình có cắt, ghép, chỉnh sửa hay không.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, Huỳnh Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp trên của mình.

Về vật chứng:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã tạm giữ:

  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13Promax;
  • Tiền Việt Nam 15.607.000 đồng;
  • 01 thẻ nhớ, 02 USB, 01 dĩa DVD chứa video ghi lại hình ảnh Huỳnh Văn N lấy trộm tài sản.

Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã trao trả: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13Promax cho Huỳnh Văn N và số tiền 15.607.000 đồng cho bà Đặng Lệ T.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, Huỳnh Văn N đã tự nguyện giao nộp 15.607.000 đồng chiếm đoạt của bà Đặng Lệ T và tiếp tục giao nộp số tiền 15.000.000 đồng để bồi thường. Tổng số tiền trên bà T đã nhận đủ và tại phiên tòa bà T yêu cầu bị cáo N bồi thường thêm số tiền 219.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKSTXCL ngày 10/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố Huỳnh Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không khiếu nại các quyết định cũng như hành vi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thị xã C, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Huỳnh Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, nên Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 01 (năm) tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Đặng Lệ T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 219.000.000 đồng, nhưng bị cáo không thừa nhận lấy số tiền này và không đồng ý bồi thường số tiền này cho bị hại, bị hại không có căn cứ chứng minh số tiền đã bị mất nên không có cơ sở chấp nhận số tiền bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo sẽ sửa sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 18/01/2024 tại ấp K, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, Huỳnh Văn N đã có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 2.200.000 đồng của bà Đặng Thị T1. Quá trình điều tra, bị cáo còn khai nhận đã nhiều lần (24 lần) lấy trộm tiền trong ngăn tủ của bà T1, mỗi lần lấy trộm từ 200.000 đồng đến khoảng 1.000.000 đồng. Tổng tài sản bị cáo thừa nhận đã chiếm đoạt là 25.000.000 đồng.

[3] Xét lời thừa nhận tội của bị cáo Huỳnh Văn N là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai người bị hại và phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Huỳnh Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đúng với kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.

[4] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để trộm cắp tài sản. Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra tội phạm, thể hiện sự xem thường pháp luật, nên cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Nhưng vào ngày 15/4/2024 bị cáo bị Công an thị xã C xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc tại quyết định số 124/QĐ-XLHC, bị cáo chấp hành xong ngày 02/5/2024. Do đó, bị cáo có nhân thân chưa tốt.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo N. Hội đồng xét xử nhận thấy: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, cần xem xét chiếu cố phần nào mức hình phạt đối với bị cáo nhưng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt giúp ích cho xã hội sau này.

[8] Quá trình điều tra, bà Đặng Lệ T trình bày bị mất số tiền khoảng 400.000.000 đồng, đồng thời có cung cấp cho Cơ quan điều tra nhiều đoạn Video nhưng qua giám định không thấy rõ mỗi lần bị cáo lấy tiền là bao nhiêu. Đối với bị cáo Huỳnh Văn N chỉ thừa nhận có lấy số tiền 25.000.000 đồng. Ngoài lời khai của bà Đặng Lệ T ra thì Cơ quan điều tra không thu thập được chứng cứ chứng minh bị cáo Huỳnh Văn N đã lấy trộm toàn bộ cố tiền 400.000.000 đồng. Do đó, chỉ có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự Huỳnh Văn N đã chiếm đoạt số tiền 25.000.000 đồng của bị hại.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Huỳnh Văn N đã tự nguyện giao nộp 15.607.000 đồng chiếm đoạt của bà Đặng Lệ T và tiếp tục giao nộp số tiền 15.000.000 đồng để bồi thường và bà T đã nhận đủ. Nhưng tại phiên tòa, bà T tiếp tục yêu cầu bị cáo N bồi thường thêm số tiền 219.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, việc bà Đặng Lệ T trình bày số tiền bị mất nhiều hơn số tiền bị cáo thừa nhận, nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa thì bị cáo N chỉ thừa nhận đã lấy số tiền 25.000.000 đồng. Ngoài lời khai ra thì bà T không có tài liệu, chứng cứ chứng minh bị cáo N đã lấy số tiền mà bà T bị mất, nên không có căn cứ để chấp nhận số tiền bà T yêu cầu bị cáo bồi thường.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nên theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Xét đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

Bị cáo Huỳnh Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Văn N 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Không chấp nhận yêu cầu của bị hại bà Đặng Lệ T yêu cầu bị cáo Huỳnh Văn N bồi thường số tiền 219.000.000 (Hai trăm mười chín triệu) đồng.

2. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Huỳnh Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thị xã Cai Lậy;

(Đã ký)

  • - Cơ quan điều tra CA thị xã Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Kim Thoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản (theft of property)

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Theft of property)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger